CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

BẬC ANH HÙNG TUYỆT THẾ QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ

FB Bùi Quang Min – Ngày mùng 5 Tết, tại gò Đống Đa, người dân Hà Nội lại mở hội mừng chiến thắng Quang Trung đại phá quân Thanh mùng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789. Xin vài dòng kể lại câu chuyện lịch sử hào hùng này của dân tộc…

Đầu thế kỷ XVII, bối cảnh chính trị nước ta ở vào cục diện: miền Bắc chúa Trịnh dẹp xong nhà Mạc, tiếm toàn bộ quyền lực của nhà Lê (chỉ cho vua Lê 5000 quân túc vệ, 7 con voi và 20 thuyền, được quyền thu thuế của 1000 xã), miền Nam họ Nguyễn nổi lên xưng Chúa mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Từ năm 1672 đến 1775, giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn xảy ra 7 cuộc giao tranh lớn làm dân nghèo xơ xác, nước loạn lạc và ngày một yếu, chính trị rối ren, quan lại chém giết lẫn nhau. Các chính sách kinh tế gây tăng thêm bất mãn: Từ năm 1709, người dân phải đóng thuế đinh (dựa theo sổ hộ tịch), thuế điền, thuế giao thông, thuế muối, thuế lâm thổ sản, thuế khoáng sản, thuế siêu dịch (phục vụ tế lễ triều đình, làm cầu đường, trường học, đắp đê, thủy lợi…). Khoáng sản bị khai thác trên diện rộng, người Tầu quản lý, khai thác mười phần thì ta chỉ thu được một phần.  Để có thêm tiền dẹp các cuộc nổi dậy của dân chúng, hào mục các nơi, Chúa Trịnh đem cả chức tước ra bán: ai nộp 600 quan thì được thăng một phẩm bậc; 1.800 quan thì được làm tri huyện, nộp 2.800 quan thì được làm tri phủ…

Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (1753-1792) gốc họ Hồ gốc huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, dòng dõi Hồ Quý Ly… chuyển vào Nam đổi tên sang họ Nguyễn. Cả 3 đều võ nghệ giỏi, khai sáng ra những võ phái Tây Sơn Bình Định, lại được thụ giáo cả văn lẫn võ thầy Trương Văn Hiến, môn khách của Trương Văn Hạnh – viên quan Nội hữu, thầy dạy của Nguyễn Phúc Luân, cha Nguyễn Ánh.

Năm 1771, anh em ông do Nguyễn Nhạc chỉ huy lập đồn trại ở vùng núi trong vùng – ấp Tây Sơn thượng (Gia Lai) và Tây Sơn hạ (Bình Định), chiêu tập nghĩa quân chống lại triều đình chúa Nguyễn. Phần lớn người Việt tham gia nghĩa quân là những người lên rừng, xuống biển trao đổi phẩm vật, người làm thuê, người gặt hái theo vụ mùa, kẻ trốn xâu lậu thuế… triều đình không thể nào kiểm soát được đám dân “vong mạng, vô lại” ấy. Ngoài ra, có không ít người ngoại quốc sống bên lề: Minh dân lưu vong nằm trong các tổ chức hội kín (Thiên Địa hội). Dưới quyền Nguyễn Nhạc có bọn cướp Nhưng Huy, Tứ Linh ở nguồn An Tượng, đám quân cướp người Hoa Tập Đình, Lý Tài.  Anh em ông thường cướp của cải người giàu phát cho người nghèo nên dân chúng gọi là “Những tên trộm cướp nhân đức”. Lực lượng nghĩa quân ngày một mạnh và có thực lực hơn, chiếm phủ thành Quy Nhơn rồi tiến ra chiếm Quảng Ngãi. Chúa Trịnh muốn dùng quân Tây Sơn chống lại Chúa Nguyễn nên phong Nguyễn Nhạc là Quảng Nam trấn thủ. Từ đó, quân Tây Sơn dốc toàn lực tấn công quân Nguyễn.

Năm 1776, Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ cầm quân vào đánh Bình Thuận, tiêu diệt quân chúa Nguyễn ở khu vực Nam Bình Định và cùng Nguyễn Lữ vào Bình Định đất Gia Định.

Năm 1782, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam đánh Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh bỏ thành Gia Định, chạy ra đảo Phú Quốc. Năm 1783, Nguyễn Huệ đem quân ra vây Phú Quốc, gia đình Nguyễn Ánh phải chạy ra Côn Đảo rồi cuối cùng chạy sang Xiêm (Thái Lan) cầu viện.

Tháng 6/1784, quân Xiêm theo Nguyễn Ánh về đánh chiếm Sa Đéc. Tướng Trương Văn Đa là con rể Nguyễn Nhạc phái người về Quy Nhơn cấp báo Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ lập tức đem quân vào tiếp sức.

Năm 1785, Nguyễn Huệ đánh trận phục kích trên địa phận tỉnh Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Soài Mút tiêu diệt hơn 20 ngàn quân Xiêm… Nguyễn Ánh cùng tàn quân Xiêm chạy về Xiêm.

Năm 1786, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ làm Tiết chế cùng Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra đánh Thuận Hóa thuộc vùng của chúa Trịnh. Chỉ trong vài ngày, Nguyễn Huệ chiếm được cả khu vực từ Thuận Hóa ra đến Sông Gianh, tiêu diệt toàn bộ cánh quân phía Nam của Chúa Trịnh. Từ năm 1786, từ Quảng Bình trở vào đều thuộc nhà Tây Sơn.

Trong khi con hổ non Tây Sơn gầm gừ quay ra nhìn về phía bắc thì con sư tử già Trịnh đã tàn tạ đến mức không thể cử động được. Các linh mục thời đó ở Bắc Hà đã ghi lại những thiên tai, thủy loạn mà dân tình phải gánh chịu. Đó là những trận hạn hán ghê gớm “làm dân xứ Nghệ không gặt được hột nào”. Trận dịch trâu bò tiếp theo vào năm 1784 làm chết 2/3 súc vật khiến cho người phải cày bừa thay. Nghề chài lưới cũng tàn tạo vì bão tố năm 1785. Trước khi Tây Sơn đánh tới thì Bắc Hà phải chịu nạn đói vì lụt to, hạn lớn, sâu bọ nhiều, vì dịch đi tướt. Theo đó, những tai họa do cầm quyền gây ra càng làm dân chúng điêu đứng. Đám quần thần văn võ nhắng nhít chỉ chú tâm nịnh bợ đưa đón lời Trịnh Sâm, mừng chào Trịnh Căn rồi bày trò tố cáo nhau này nọ…

Thắng trận đầu rồi, Nguyễn Hữu Chỉnh nói với Nguyễn Huệ: “Tướng quân một lần đi mà định được Thuận Hóa, uy danh lừng lẫy đến Bắc Hà. Về đạo hành quân, một là thời, hai là thế, ba là cơ. Ba điều ấy lợi dụng được thì đến đâu cũng thắng. Nay ở Bắc Hà, tướng lười, quân kiêu, ta nhân thể đại thắng mà lấy thời và cơ hội ấy không nên bỏ mất“. Nguyễn Huệ nghe theo cùng tướng Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra Bắc diệt họ Trịnh và chỉ trong mấy ngày, quân Tây Sơn bình định xong đất Bắc, diệt nốt họ Trịnh.

Năm 1786, sau khi Nguyễn Huệ chiếm Thăng Long, ông giương cao khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh” được vua Lê Hiển Tông tiếp và phong làm Nguyên súy Uy Quốc Công, gả công chúa Ngọc Hân cho. Xong đâu đó, Nguyễn Huệ rút quân về Nam, giao quyền lại cho vua Lê. Tuy nhiên, vua Lê Chiêu Thống bất tài không cai trị được đất nước để Trịnh Lễ, Trịnh Bồng tiếm quyền nên lại cầu viện Nguyễn Huệ ra giúp. Nguyễn Huệ cử Nguyễn Hữu Chỉnh ra đánh tan quân Trịnh rồi kiêu căng đắc chí thâu tóm triều chính. Nguyễn Huệ biết được cử Vũ Văn Nhậm ra trấn áp Chỉnh. Nhậm lại nắm nhiếp chính âm mưu phản lại buộc Nguyễn Huệ lại ra Thăng Long giết chết Nhậm và sắp xếp lại triều thần nhà Lê. Hùng khí của Nguyễn Huệ được dư luận Bắc Hà đánh giá như sau: “Nguyễn Huệ là bậc lão thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật là xuất quỷ nhập thần. Không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn cả sấm sét…” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí)

Nguyễn Nhạc lo em mình sẽ nổi tiếng hơn mình nên dẫn 500 quân ra Thăng Long gặp Nguyễn Huệ rồi khi trở về Quy Nhơn, năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương lo bình định các tỉnh phía Bắc Quảng Nam, đóng quân ở Thuận Hóa, Nguyễn Lữ được phong Đông Định Vương trông coi Gia Định và các tỉnh miền Nam.

Năm 1787, sau một thời gian Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bất hòa, Nguyễn Huệ đem quân vây đánh thành Quy Nhơn. Sau 3 tháng xung đột, Nguyễn Nhạc phải đích thân lên thành kêu gọi tình truột thịt và chia lại đất từ Quảng Nam trở ra là của Nguyễn Huệ. Cũng từ đó, lực lượng của Nguyễn Nhạc ở Bình Định suy yếu. Tới tháng 12/1793, Nguyễn Nhạc qua đời hưởng thọ 56 tuổi.

Năm Mậu Thân tháng 17/1788, Hoàng Thái Hậu sang xin nhà Thanh cứu viện. Sau khi được tin vua Lê Chiêu Thống dẫn 20 vạn quân Thanh (các nguồn tư liệu khác nhau cho số liệu khác nhau) do Tôn Sĩ Nghị – Tổng trấn Lưỡng Quảng về cướp nước ta đã chiếm Thăng long và giết những ai theo Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung để có danh chính ngôn thuận chống xâm lược, rồi đem quân ra Bắc dẹp giặc. Ngày 25/11/1788, ông dẫn 10 vạn quân ra bắc rồi bảo với quân sĩ rằng:

“Chúng nó sang phen này là để mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải dùng Ngô Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng”.

Rồi Quang Trung truyền cho quân sĩ ăn Tết trước “Đến ngày mùng 7 tháng Giêng thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn tết khai hạ”. Trước khi xuất quân Quang Trung đọc tờ hịch để kích thích tinh thần:

Quân Thanh sang lấn nước ta, hiện chúng đã đóng ở thành Thăng Long các ngươi có biết hay không? Trong khoảng trời đất phận sao đã được định rõ phương Nam phương Bắc, nước nào cai trị nước ấy. Người Tàu không phải nòi giống nước ta, bụng họ ắt là khác hẳn. Từ đời nhà Hán đến nay họ đã mấy phen chiếm cướp đất cát, giết hại nhân dân, vơ vét của cải. Người nước ta không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi (…). Ngày nay, quân Thanh lại sang, định lấy nước ta đặt làm đất quận huyện của chúng, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đuổi. Các người đều đủ lương tri, lương năng nên phải dốc lòng hết sức với ta để dựng công lớn, chớ quen thói cũ mang lòng nhị tâm. Nếu như phát giác, ta sẽ tức khắc giết chết, không tha một người nào. Đừng trách ta không bảo trước“.

Sau đó thẳng đường ra Thăng Long và chỉ mấy ngày thần tốc đã tiêu diệt toàn bộ lực lượng hùng hậu của Tôn Sĩ Nghị cầm đầu. Thái thú Tri phủ Điền Châu Sầm Nghi Đống đóng quân tại Đống Đa quá khiếp sợ thắt cổ chết, hàng vạn tên chết và bị bắt sống. Nửa đêm, Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ không kịp mặc áo giáp, bỏ chạy về nước; Lê Chiêu Thống cùng Hoàng Thái hậu và quần thần chạy sang bên Tàu và sống lưu vong đến chết năm 1793.

Mùng 5 Tết, Quang Trung và nghĩa quân vào thành Thăng Long, áo chiến bị hơi thuốc súng biến thành màu đen, dẫn đầu đoàn quân cùng 80 voi chiến. Chiến thắng 20 vạn quân Thanh, Nguyễn Huệ đã trở thành vị Hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Người có sức khỏe tuyệt trần, có chiến thuật hành quân thần tốc, mưu mẹo như thần, trăm trận trăm thắng.

Sau đó ông được vua Thanh sai sứ sang nước ta phong làm An Nam Quốc vương và mời sang Yên Kinh yết kiến.

Năm sau, Quang Trung chọn Phạm Công Trị trá làm Quốc vương cùng Ngô Văn Sở, Đặng Văn Trấn, Phan Huy Ích… sang Trung Quốc yết kiến vua Càn Long, được Càn Long hết lời ca ngợi.

Năm 1792, ông mất sau khi làm Hoàng đế được 4 năm, hưởng dương 39 tuổi. Sau 6 năm sống chung với nhau, hoàng hậu Ngọc Hân đau khổ xé lòng khóc chồng bằng bài thơ Ai Tư Vãn:

… Nghe trước có đấng vương Thang, Võ

Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao

Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước biết bao công trình.

Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn

Công đức dày ngự vận càng lâu

Mà nay lượng cả ơn sâu

Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần.

Công dường ấy mà nhân dường ấy

Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công

Rộng cho chuộc được tuổi rồng

Ðổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.

Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt

Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa!

Tưởng lời di chúc thiết tha

Khoác nào nên tiếng, thức mà cũng mê

Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở

Mối sầu riêng ai gỡ cho xong?

Quyết liều mong vẹn chữ tòng,

Trên giường nào ngại, giữa dòng nào e!

Còn trứng nước thương vì đôi chút

Chữ tình thâm chưa thoát được đi

Vậy nên nấn ná đòi khi

Hình tuy còn ở phách thì đã theo…

Filed under: Du Lịch-Văn Hóa, Giáo Dục-Tuổi Trẻ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: