CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

VIỆT NAM TĂNG DỰ TRỮ BẮT BUỘC, ÁP TRẦN LÃI XUẤT ĐÔ LA

Vũ Hoảng

Sáng 9/4, Ngân hàng NN đã ban hành quyết định tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ và áp trần lãi suất huy động đô la. Việc này tác động ra sao đến ngân hàng, doanh nghiệp, người dân?

Hai dòng máu trong một cơ thể

Với hai quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 6% đối với tiền ngoại tệ ký gửi, và quy định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ 3%, chính sách của Ngân hàng Nhà nước được nhiều nhà kinh tế đánh giá là cần thiết, nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, thu hút tiền nhàn rỗi và nhất là tránh tình trạng đô la hoá nền kinh tế nội địa, vốn đang bị nhiều chuyên gia lên án là “2 dòng máu chảy trong một cơ thể.”
Quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ có hiệu lực từ đầu tháng 5, trong khi trần lãi suất huy động đồng đô la sẽ được thực thi từ ngày 13/4.
Những thay đổi về quy định mức dự trữ bắt buộc và trần lãi suất ngoại tệ nằm trong chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm đạt mục đích kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái và toàn dụng lao động. Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ tăng cao hơn, nghĩa là chi phí cho các ngân hàng thương mại bị đẩy lên, khiến lãi suất huy động ngoại tệ phải giảm xuống, đồng thời lãi suất cho vay bằng ngoại tệ phải tăng hơn, nhằm bù đắp chi phí cho dự trữ bắt buộc.
Khi lãi suất tiết kiệm đô la không còn hấp dẫn nữa, người dân cũng như doanh nghiệp sẽ quay trở lại với đồng nội tệ, về lâu về dài, điều này sẽ có lợi cho sự ổn định của đồng bạc Việt Nam.

Cần thiết và đúng hướng

Theo ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, động thái tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ và khống chế lãi suất ngoại tệ là điều cần thiết và đúng hướng.

T.S Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Uỷ Ban giám sát Tài chính quốc gia cho rằng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và giảm lãi suất huy động tiền đô la sẽ khiến các ngân hàng phải tính toán, cân nhắc việc giảm lãi suất huy động, đồng thời tăng lãi suất cho vay.

Trong khi đó, ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nhận xét việc giảm lãi suất huy động đô la làm cho người dân cảm thấy đồng đô la yếu đi ở trong nước vì lãi suất tiền đồng đang cao, người dân sẽ bán đô la để gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam. Như vậy, nguồn cung đô la sẽ tăng lên và Nhà nước có thể thu gom đô la, tăng dự trữ ngoại hối và làm cho thị trường ngoại hối ổn định hơn. Chẳng hạn mới đây, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã bán 2,7 tỷ đô la cho Ngân hàng theo chỉ đạo của Chính phủ.

Biện pháp bắt buộc

Còn theo T.S Alan Phạm, Kinh tế trưởng của Công ty cổ phần Chứng khoán Vina thì quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ là một biện pháp nằm trong chiến dịch chống đô la hoá. Hiện nay, lượng đô la chiếm hơn 20% tổng lượng tiền gửi trong ngân hàng là tỉ lệ khá cao, vấn đề là làm thế nào để người dân không cảm thấy có lợi khi nắm giữ đô la nữa.

Liên quan đến hai quyết định mới này và vấn đề đô la hoá nền kinh tế, Tiến sỹ Nguyễn Đại Lai cho đài chúng tôi biết:

“Tăng dự trữ bắt buộc nó hàm một thông điệp là hạn chế huy động ngoại tệ, giảm tín dụng ngoại tệ, làm cho giá tín dụng tăng lên. Chi phí hay thuế vô hình cao lên. Riêng quan điểm của cá nhân tôi, thì chính sách tiền tệ của NHNN là ngày càng phải chấm dứt mạnh tình trạng đô la hoá ở Việt Nam. Hiện tượng đô la hoá đang làm chính sách tiền tệ bị méo mó đi rất nhiều và hai nữa, nó thao túng nền tiền tệ độc lập của Việt Nam. Theo quan điểm của tôi là tất cả ngoại tệ đi theo đường mua bán chứ không đi theo thị trường tín dụng nữa.”

Việc tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ đi kèm với sự khống chế lãi suất tiền gửi ngoại tệ cũng có những tác động đến đồng Việt Nam. PGS, TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cho rằng, khi NHNN nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, người vay và người gửi tiền sẽ quay sang tiền đồng, từ đó làm cho lãi suất huy động tiền đồng giảm.

Nhân viên ngân hàng đếm tiền đồng
Nhân viên ngân hàng đếm tiền đồng

Với lãi suất trần được khống chế mức 3%/năm, các ngân hàng thương mại tới đây sẽ phải điều chỉnh lãi suất huy động đồng đô la xuống, như vậy, sẽ tăng hoạt động tín dụng bằng đồng Việt Nam. Người dân sẽ có xu hướng chuyển sang các giao dịch bằng nội tệ, đặc biệt là khi thị trường đô la tự do bị cấm.

Ông Nguyễn Trí Hiếu, thành viên thường trực HĐQT Ngân hàng An Bình lý giải động thái mới này không khuyến khích người dân chuyển sang ngoại tệ gửi ngân hàng, lãi suất đô la không còn hấp dẫn và điều này có lợi cho sự ổn định của đồng Việt Nam.

Nhận xét về tác động của chính sách mới này với thị trường đồng nội tệ trong nước, T.S Nguyễn Đại Lai giải thích như sau:

“Khi ngoại tệ ngày càng trở thành hàng hoá, theo nghĩa mua bán, giảm bớt tín dụng ngoại tệ đi. Các ngân hàng thương mại, vốn mà bằng ngoại tệ tức là không phải vốn huy động, có lẽ giảm cái đó, người ta phải tăng cường mua ngoại tệ, như vậy ngoại tệ vào và tiền đồng sẽ ra.

Ngân hàng TM huy động nội tệ cũng đang gặp nhiều khó khăn, vì người dân có tiền, người ta có quá nhiều lựa chọn, trong đó có cả vàng và ngoại tệ, mà bây giờ chống vàng hoá, chống đô la hoá thì nó sẽ dồn vào nội tệ thôi. Thị trường chứng khoán đang lao đao, bất động sản không phải là một sức hút đủ mạnh nữa. Cho nên NHNN có một thái độ quyết liệt trong việc chống đô la hoá thì thị trường huy động nội tệ sẽ khá hơn và lãi suất sẽ dần dần tuột hơn.”

Cần lộ trình tích cực hơn nữa

Theo nhận xét của TS Nguyễn Đại Lai thì hai chính sách mới ban hành mới chỉ là động thái hạn chế tín dụng ngoại tệ, theo ông, để chống đô la hoá, cần có một lộ trình và một giải pháp đồng bộ. Ông cho biết thêm:

“Đây mới chỉ là động thái nhằm hạn chế tín dụng ngoại tệ thôi, với tư cách là một nhà khoa học, tôi muốn có một lộ trình tích cực hơn trong việc chống ngoại hối nói chung và đô la hoá nói riêng nền kinh tế. Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc hạn chế dòng tiền vào, mà dòng tiền vào nên đi qua thị trường ngoại hối.

Tiến tới mở rộng thị trường buôn bán tiền tệ, trong khi đó siết chặt tín dụng lại. Đồng thời siết chặt việc sử dụng ngoại tệ để mua bán như nội tệ, cứ như một dòng máu nữa chảy trong nền kinh tế là không thể được.
Pháp lệnh về ngoại hối bây giờ là rất thấp, cần phải xây dựng một luật riêng về ngoại hối tại Việt Nam.”

đô la-đồng bạc
đô la-đồng bạc

Nằm trong hàng loạt các biện pháp hạn chế tín dụng, thắt chặt tiền tệ, kiểm soát áp lực lạm phát nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô, hai chính sách mới được NHNN ban bố cuối tuần rồi đang được đánh giá sẽ có những tác động tích cực và cần thiết với hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hi vọng, bằng những quyết định đúng đắn, hiện tượng đô la hoá nền kinh tế, sự găm giữ đô la hay quay lưng lại với đồng tiền Việt Nam sẽ được cải thiện dần và kinh tế Việt Nam sẽ sớm ổn định.

Theo RFA

 

Việt Nam có thể giảm lệ thuộc vào đồng đôla?

Tháng 10-2010, ngân hàng ADB đưa ra bản báo cáo về tình hình đô la hóa tại các nước Lào, Campuchia và Việt Nam, trong đó đánh giá cao những tiến bộ mà Việt Nam đạt được trong việc giảm lệ thuộc vào đồng đô la.

AFP PHOTO – Một nhân viên ngân hàng đang kiểm tra đô la.

Tuy nhiên hiện tượng tiền đồng mất giá liên tục trong suốt gần 1 năm rưỡi qua cùng với chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, đang khiến người dân Việt Nam ngày càng quay trở lại với việc găm giữ đô la và vàng, bất chấp quy định hạn chế giao dịch vàng và đô la trên thị trường tự do hiện nay. Liệu Việt Nam có thể tiếp tục thực hiện việc giảm đô la hóa trong nền kinh tế thành công trước tình hình hiện tại?

Không chiếm quá 20% cung tiền

Việt Hà phỏng vấn chuyên gia kinh tế Jay Menon của Ngân hàng phát triển châu Á về vấn đề này. Trước hết nói về tình hình đô la hóa tại Việt Nam hiện nay, ông Jay Menon cho biết:

Jay Menon: Theo tôi, tại Việt Nam chúng ta thấy có nhiều thành công hơn so với hai nước Lào và Campuchia liên quan đến việc giảm đô la hóa. Tất nhiên tại Campuchia thì vấn đề đô la hóa có thể nói là toàn bộ, còn tại Lào thì họ sử dụng cả đồng đô la lẫn bạt Thái. Việt Nam rõ ràng là đang đi đầu trong việc giảm đô la hóa, nhìn chung thì đô la không chiếm quá 20% cung tiền. Và con số này là đã giảm rất nhiều so với trước kia. Tuy nhiên hiện nay đang có lo ngại là tỷ lệ này sẽ tăng lên. Tất nhiên, ngoài đô la thì người dân còn dự trữ cả vàng nữa. Cho nên điều quan trọng ở đây chúng ta cần nghĩ tới đó không phải là phần trăm đô la mà là phần trăm của tất cả các loại không phải tiền đồng mà người dân đang nắm giữ. Và nếu tính như vậy, thì tình hình còn nghiêm trọng hơn.

Việt Hà: Vậy tình trạng đô la hóa tại Việt Nam có mối quan hệ thế nào với lạm phát?

Jay Menon: Nếu nói về sự ảnh hưởng qua lại giữa đô la hóa và lạm phát, thì điều đáng lo ngại hiện nay chính là sự giảm giá của tiền đồng, vì đồng đã bị liên tục hạ giá 4 lần kể từ tháng 11 năm 2009. Và theo tôi nó khoảng 20% giá trị chính thức. Nhưng chúng ta phải tính đến chênh lệch đang tăng giữa tỷ giá chính thức và không chính thức. Và vì như vậy nên sức ép lên giá trị tiền đồng lại càng lớn hơn. Vì thế việc hạ giá tiền đồng bản thân nó đã làm tăng lạm phát. Ngoài ra còn có sự lo lắng về tăng trưởng tín dụng và cung tiền.

ADB-Inlfation-250.jpg
Tỷ lệ lạm phát và GDP của một số nước và Việt Nam. RFA PHOTO.

Đô la hóa không tham gia vào việc làm tăng lạm phát, vì thực ra đó là cách để đảm bảo sự ổn định, vì đồng đô la không dễ mất giá như tiền đồng, cho nên lạm phát đến từ một nguyên nhân khác, đó là sự thâm hụt đang tăng cao trong nền kinh tế vĩ mô, bao gồm cả thâm hụt thương mại lẫn thâm hụt ngân sách, ngoài ra là việc tăng giá của thực phẩm và các sản phẩm dịch vụ khác cũng ảnh hưởng đến lạm phát. Cho nên ảnh hưởng giữa lạm phát và đô la hóa chỉ có tính gián tiếp. Ngoài ra, vì có hiện tượng đô la hóa cao nên ngân hàng nhà nước Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm sóat cung tiền, tại thị trường tự do, mọi người không sẵn sàng giữ tài sản tính theo giá trị tiền đồng, cho nên ngân hàng nhà nước phải sử dụng cách ví dụ như thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Làm như vậy để giảm sự tăng trưởng tín dụng. Các ngân hàng lớn thì ít bị ảnh hưởng bởi quy định này vì họ có khoản dự trữ lớn, nhưng ngân hàng nhỏ thì khác vì dự trữ của họ ít hơn.  Cho nên ngân hàng lớn sẽ vẫn tiếp tục cho vay như thường vì họ đã có dự trữ lớn.  Việc đô la hóa đã làm giảm khả năng của ngân hàng trung ương trong việc thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ và do đó có thể dẫn đến hạn chế trong việc kiểm soát lạm phát trong những lúc như giai đoạn hiện nay

Coi trọng kiểm soát lạm phát

Việt Hà: Có những chuyêng gia kinh tế cho rằng với các chính sách mà chính phủ Việt Nam đang áp dụng hiện nay, Việt Nam có thể kiểm soát được tình hình trong vòng 6 đến 9 tháng tới, ông có đồng ý với ý kiến này?

Jay Menon: Tôi hy vọng là họ có thể làm được như vậy, có những lý do để tin là chính phủ Việt Nam đang rất coi trọng việc kiểm soát lạm phát. Họ coi đây là quan ngại chính. Còn nói về khoảng thời gian mất bao lâu các biện pháp họ áp dụng mới đem lại kết quả thì có 2 điều phải suy nghĩ. Thứ nhất là vấn đề kinh tế vĩ mô, đặc biệt là thâm hụt ngân sách và thương mại, vấn đề này phải mất một thời gian dài hơn mới có thể kiểm soát được. Có thể 6 hay 9 tháng hoặc hơn trước khi thâm hụt được giảm xuống đáng kể. Và đây có thể coi là một quan ngại lớn cho chính phủ.

Thứ hai là sự thiếu lòng tin vào tiền đồng, và điều này đòi hỏi một thời gian dài hơn rất nhiều. Nhưng cách chúng ta nhìn vào đô la hóa là đô la hóa bản thân nó chỉ là hiện tượng chứ không phải là vấn đề. Nó phản ánh những lo ngại của người dân, bao gồm lo ngại về sự mất ổn định của kinh tế vĩ mô, quản lý của chính phủ, rồi quyền với bất động sản, hệ thống pháp lý. Tất cả những điều này đòi hỏi phải có nhiều thời gian để giải quyết. Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định trong việc giải quyết các vấn đề vừa nêu, tuy nhiên còn nhiều điều phải làm trong thời gian tới. Nói tóm lại có những biện pháp ngắn hạn cho lạm phát trước mắt, nhưng về dài hạn là nhân tố cơ cấu cần phải xem xét, trong đó bao gồm việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam có cam kết đổi mới các doanh nghiệp này nhưng họ cần phải làm nhanh hơn nữa.

Việt Hà: Việt Nam có thể học được bài học gì từ các nước khác đã giảm đô la hóa thành công trên thế giới thưa ông?

Jay Menon: Bài học mà Việt Nam có thể học từ các nước khác đã thành công trong việc giảm đô la hóa bao gồm Singapore, Malaysia vốn trước kia phụ thuộc tiền bảng Anh. Họ không thể đưa ra các chính sách bắt buộc giảm đô la hóa, không có các biện pháp theo kiểu đi đường tắt với mong muốn mọi sự thay đổi chỉ trong chớp mắt. Những nước đã từng làm theo kiểu như vậy đều không thành công. Không những thế còn làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng. Bài học từ các nước thành công là phải cải thiện được tình hình kinh tế vĩ mô, giảm thâm hụt ngân sách và thương mại, đồng thời cố gắng cải cách những vấn đề về thể chế.

sicxh1236490385-250.jpg
Trao đổi đô la và tiền đồng tại một ngân hàng ở Hà Nội. AFP PHOTO.

Nếu họ có một hệ thống pháp lý đảm bảo quyền sở hữu đất đai, tài sản một cách rõ ràng và hợp lý thì có thể giúp gây dựng lòng tin. Ngoài ra, việc phát triển khu vực tài chính là một phần khác trong ổn định kinh tế vĩ mô. Chính trị Việt Nam hiện ổn định là một điểm tốt. Cuối cùng là một khi người dân tin rằng chính phủ có thể kiểm soát được nền kinh tế vĩ mô và quyền sở hữu, sử dụng tài sản, đất đai được thực hiện nghiêm túc, rõ ràng, thì việc giảm đô la hóa sẽ đến một cách tự nhiên. Và không cần phải làm gì nữa.

Ngoài ra, về trung hạn, Việt nam cũng nên xem xét biện pháp neo cứng vào một đồng tiền mạnh (currency board arrangement), giống như ở Hồng Kông. Làm như vậy thì người dân có thể tin tưởng khi chuyển đồng sang đô la.Vấn đề bây giờ là dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện rất thấp, ước tính gần đây cho thấy là chỉ bằng khoảng 2 tháng nhập khẩu, trong khi đó giới hạn tối thiểu phải là 6 tháng. Trước khi họ có thể áp dụng các biện pháp khác, thì họ cần phải giải quyết việc thiếu hụt trong dự trữ ngoại hối để có thể thực hiện được biện pháp neo cứng theo ngoại tệ khác một cách có hiệu quả. Đó là biện pháp mà họ có thể xem xét trong thời gian trung hạn để thực hiện việc giảm đô la hóa.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn này.

Theo RFA

Filed under: Kinh Tế-Đời Sống, ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: