CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

DÂN PHẢI ĐƯỢC QUYỀN PHÚC QUYẾT SỬA HIẾN PHÁP

Một trong những vấn đề Chính phủ dự kiến sẽ trình Bộ Chính trị chỉ đạo, sửa đổi, đó là nhân dân phải được thực hiện quyền phúc quyết những sửa đổi của Hiến pháp, Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm với các thành viên Chính phủ và tập thể Chính phủ.

Vấn đề này được Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng nêu trong cuộc họp hôm qua (22/7) góp ý cho báo cáo của Chính phủ sơ kết triển khai Nghị quyết số 48 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật VN đến 2010, định hướng 2020.

Sửa Hiến pháp

Thứ trưởng Đinh Trung Tụng cho hay, thời gian tới phải kiến nghị Bộ Chính trị có ý kiến chỉ đạo về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 liên quan đến xây dựng nhà nước và pháp luật.

Theo dự thảo báo cáo Chính phủ, thực tiễn tổ chức Nghị quyết số 48 đã cho thấy nhiều định hướng, chủ trương giải pháp cải cách pháp luật, tư pháp, hành chính đúng đắn song không thể thực hiện được do giới hạn bởi các quy định của Hiến pháp 1992.

Do đó, đề nghị Bộ Chính trị cho ý kiến chỉ đạo về việc sửa đổi, bổ sung những nội dung cơ bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Cụ thể là phát triển đầy đủ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong Hiến pháp 1992 theo hướng “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Xác định rõ trong Hiến pháp nguyên lý cơ bản: Quốc hội là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan hành pháp, Tòa án là cơ quan tư pháp. Tất cả các cơ quan này đều thực hiện quyền lực nhà nước do nhân dân giao phó/ủy quyền trực tiếp qua Hiến pháp.

Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan lập pháp của nhà nước, thực hiện các chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, trừ những việc do nhân dân trực tiếp biểu quyết.

Trong đó, nhân dân phải được thực hiện quyền phúc quyết những sửa đổi của Hiến pháp. Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm với các thành viên Chính phủ và tập thể Chính phủ.

Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của nhà nước, thực hiện chức năng thống nhất quản lý phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm việc thực hiện Hiến pháp.

Chính phủ có trách nhiệm thực hành quyền công tố, thống nhất quản lý công tác thi hành án, hành chính – tư pháp, bao gồm cả việc đảm bảo các nguồn lực và điều kiện cần thiết cho tổ chức, hoạt động của các tòa án nhằm thực hiện nguyên tắc độc lập của cơ quan xét xử.

Bộ Tư pháp cũng kiến nghị làm rõ chức năng, nhiệm vụ các ngành tòa án, vai trò chính quyền địa phương. Bổ sung quy định về Tòa án Hiến pháp để đảm nhận chức năng phán quyết về các vi phạm Hiến pháp.

Ngồi điều hòa làm luật

Các chuyên gia pháp chế đến từ nhiều bộ, ngành cũng tranh thủ “than” về những bất cập trong làm luật.

Đại diện Vụ Pháp chế, Bộ Công thương tâm tư: “Luật có lợi cho quản lý nhà nước như thuế, hải quan, kiểm soát… thì làm nhanh, ra nhiều. Nhưng luật bảo vệ quyền lợi người dân, doanh nghiệp thì làm chậm, ít”.

Vị chuyên gia của Bộ Công thương cũng phản đối cơ chế xin – cho trong làm luật với lý do luật soạn ra để đáp ứng đòi hỏi xã hội nhưng ở ta cứ phải thông qua Bộ Chính trị.

Thậm chí, nhiều dự án luật chào đời sau còn lạc hậu và kéo lùi sự phát triển.

Ông Đặng Anh (Vụ Pháp chế, Bộ Công an) bổ sung: “Như nhiều vị đã nói, chúng ta ngồi phòng điều hòa máy lạnh để soạn luật nên luật không đi vào cuộc sống được”.

Như đánh giá của Chính phủ thì vẫn còn sự “mất cân đối” khi soạn luật: “Coi trọng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, định hướng XHCN là cần thiết nhưng không có nghĩa coi nhẹ các lĩnh vực khác như quản lý tài sản công, bảo vệ quyền tự do, dân chủ”.

Liên quan đến những tranh cãi sôi nổi trong kỳ họp Quốc hội mới đây về tình trạng “đưa vào, rút ra” quá nhiều dự án luật, Vụ trưởng Vụ Pháp luật (Văn phòng Chính phủ) Phạm Tuấn Khải nhận định “chủ yếu do nể nhau nên cứ đưa vào”.

Bảo vệ quyền tự do, dân chủ

Theo định hướng của Chính phủ, trong 10 năm tới, cần tập trung xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Dự thảo báo cáo nêu rõ, hoàn thiện pháp luật về quyền lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm công dân. Xây dựng hệ thống pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia công việc nhà nước.

Cũng theo Thứ trưởng Đinh Trung Tụng, cần hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước với các quyền, lợi ích công dân, chế độ trách nhiệm của nhà nước, nhất là tòa án. Xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền, lợi ích công dân, khắc phục tình trạng oan sai.

Thời gian tới, Chính phủ cũng cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia. Chẳng hạn các văn bản pháp luật bảo vệ biên giới quốc gia, vùng biển, vùng trời

Chậm thực hiện vì dấu “Mật”

Dự thảo báo cáo của Chính phủ đánh giá: “Nhận thức về tầm quan trọng của Chiến lược đang còn hạn chế. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 48 năm 2005 nhưng cuối cùng không lập ban chỉ đạo. Sau gần 2 năm, Ủy ban Thường vụ QH mới ban hành kế hoạch thực hiện, còn các bộ, ngành địa phương đều không có chương trình hành động”.

Tuy nhiên, lãnh đạo Vụ Pháp chế các bộ phản ánh, văn bản này được xem là văn bản mật. Đại diện Bộ Công thương phàn nàn, rất khó tìm Nghị quyết 48 và khi tìm được mới phát hiện đây là văn bản có chữ Mật.

Ông Lê Minh Tâm (Hội Luật gia) cho hay, lý do UBTVQH chậm ra kế hoạch thực hiện vì ban đầu Nghị quyết 48 đóng dấu Mật: “Lúc đó, trong giới luật chúng ta cũng đã hỏi nhau về việc Nghị quyết này có được phổ biến hay không”.

  • Lê Nhung

Nguồn: Vietnamnet.vn
Đọc thêm: Cựu Chủ tịch Quốc hội bàn việc sửa Hiến pháp

Sửa thế nào để có một Hiến pháp đích đáng?

Theo TS Tô Văn Trường, “nhận thức về bản chất của Hiến pháp, sẽ chỉ rõ cho chúng ta khi muốn sửa Hiến pháp phải làm những việc gì, làm như thế nào, khi nào để một văn bản tự nhận là Hiến pháp đáng gọi là Hiến pháp”.

LTS: Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu với thế giới, thể chế chính trị và hệ thống pháp luật của Việt Nam có nhu cầu cải tổ sâu rộng. Hôm 9/6/2010 thảo luận tại hội trường, nhiều vị đại biểu Quốc hội đã đề nghị sửa một cách cơ bản một số điều của Hiến pháp hiện hành để có thể cải cách các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân….  Từ cuộc trò chuyện của cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An với Tuần Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, TS. Tô Văn Trường đã viết riêng cho Tuần Việt Nam bài viết dưới đây. Mời độc giả cùng đọc và thảo luận thêm.

Hiến pháp là tiếng nói của nhân dân làm chủ quốc gia đó

Đánh giá một quốc gia, người ta thường nhìn vào bản Hiến pháp bởi nó là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản, thiết lập thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Bởi vậy, tất cả các quốc gia đều rất cần có bản Hiến pháp dân chủ thể hiện nhà nước pháp quyền.

Quốc hội đang có chủ trương sửa lại Hiến pháp năm 1992, không những là cơ sở để sửa những luật cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước, cơ chế bảo vệ Hiến pháp và quyền bầu cử mà còn là cơ hội để rà soát, đánh giá lại toàn bộ về bản Hiến pháp đối với yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước. Hiến pháp là một văn kiện thiêng liêng của mỗi quốc gia, là văn bản tối cao của pháp luật quy định những vấn đề cơ bản nhất của nhà nước đó.

Bản chất của Hiến pháp là những quy định pháp luật mà văn bản pháp luật là những điều quy tắc ứng xử, bắt buộc đối với mọi đối tượng sống trên lãnh thổ quốc gia cho nên khi sửa phải rất thận trọng, bài bản, khoa học và thực tế. Hiến pháp của một quốc gia là tiếng nói của nhân dân, của dân tộc làm chủ quốc gia đó, biểu thị sự lựa chọn và quyết định thể chế của dân tộc, ý chí và tâm nguyện của dân tộc.

Nhận thức về bản chất của Hiến pháp, sẽ chỉ rõ cho chúng ta khi muốn sửa Hiến pháp phải làm những việc gì, làm như thế nào, khi nào để một văn bản tự nhận là Hiến pháp đáng gọi là Hiến pháp. Trên thế giới này, xưa nay đã từng có những bản mạo danh Hiến pháp, là sản phẩm của một số người mạo danh dân tộc.

Xin lưu ý rằng, giá trị của một bản Hiến pháp hoàn toàn vừa đúng bằng, không hơn, không kém, giá trị của sự thực hiện Hiến pháp ấy. Những nhà nghiên cứu có kinh nghiệm thường đánh giá một bản Hiến pháp dựa trên sự phân tích thực tế thực hiện hay không thực hiện, thực hiện trung thành hay thực hiện bóp méo các điều khoản, và các câu chữ của văn bản Hiến pháp ấy.

Trở lại với những tinh túy của Hiến pháp 1946

Bản Hiến pháp 1946 được đánh giá như một nội dung mẫu mực của một bộ luật cơ bản xác lập thể chế Dân chủ – Cộng hoà, không chỉ xác lập một sự tiến bộ vượt bậc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn xác định một thể chế tiên tiến trong nền chính trị của thế giới.

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9/1945, đọc tại vườn hoa Ba Đình lịch sử, mở đầu, Người đã dựa vào lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là đỉnh cao của văn chương chính luận Việt Nam, là Văn kiện pháp lý đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. Bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 của Hồ Chủ Tịch văn chương sắc sảo, giản dị, dễ hiểu, lay động lòng người, phản ánh tư tưởng của Người: Dân tộc muốn đi lên, phải biết thừa kế các tinh hoa của nhân loại. Với tầm vóc của lãnh tụ, Người lập luận vô cùng sắc sảo, đanh thép, chân lý, hào khí của dân tộc: “Nếu nước nhà được độc lập mà dân chúng không có tự do hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ rất đơn giản, thiết thực nghĩa là mọi người dân có quyền được mở miệng hay nói cách khác Hiến pháp phải thể hiện được quyền phúc quyết của người dân.

Nếu dùng phương pháp “tham  chiếu”  sẽ thấy Hiến pháp 1946 thể hiện tuyệt vời Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ Tịch bởi lẽ nó đúng, đủ và giản dị, thể hiện dễ hiểu thành Hiến pháp với tất cả tinh thần của Tuyên ngôn độc lập.

Thực ra, thể hiện Tuyên ngôn độc lập như thế vào Hiến pháp là việc rất khó nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm được. Đương nhiên, thời ấy câu chữ có phần mộc mạc để cho mọi người dân dễ hiểu nên vấn đề tam quyền phân lập được viết ra dưới dạng rất “bình dân”, nhưng mà vẫn đủ nghĩa.

Trong quá trình phát triển của đất nước, phải hướng tới tương lai, chúng ta không bao giờ muốn “bao giờ cho đến ngày xưa” nhưng éo le thay, thời đại ngày nay vấn đề sống còn của đất nước là phải trở lại, học hỏi những tinh túy của Hiến pháp 1946.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ 3/9/1945, Hồ Chủ tịch đã có chỉ thị nhiệm vụ cấp bách phải xây dựng bản Hiến pháp để nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ. Theo sắc lệnh số 34 ngày 20/9/1945 của Hồ Chủ Tịch  Ban soạn thảo Hiến pháp 1946  của Chính phủ lâm thời do 7 người chủ trì: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (Bảo Đại), Đặng Thái Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương  Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh).

Tháng 11/1945, bản Dự án Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được Chính phủ soạn thảo và được công bố để lấy ý kiến các chính giới. Uỷ ban kiến quốc của Chính phủ cũng đã tự nghiên cứu và đưa ra một Dự thảo Hiến pháp.

Ngày 2/3/1946, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, Quốc hội đã bầu Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên. Đây là các trí thức tiêu biểu, có người chưa phải là đảng viên.

Căn cứ vào bản Dự án của Chính phủ và đối chiếu với bản Dự thảo của Uỷ ban kiến quốc, tập hợp những kiến nghị phong phú của toàn dân và tham khảo kinh nghiệm soạn Hiến pháp của các nước, Ban Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội đã soạn thảo một Dự án Hiến pháp để trình Quốc hội. Trong phiên họp ngày 29/10/1946, Ban Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội được mở rộng thêm 10 vị đại biểu cho các nhóm, đại biểu trung lập, đại biểu Nam Bộ, đại biểu đồng bào dân tộc thiểu số để tham gia tu bổ thêm bản Dự án.

Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, từ 28/10 đến 9/11/1946, lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam thực hiện quyền lập hiến. Từ 2/11/1946, Quốc hội bắt đầu thảo luận về Dự án Hiến pháp. Các đại biểu của các nhóm đảng trong Quốc hội đã lần lượt phát biểu ý kiến. Họ đã nêu ra những ưu điểm của Dự án Hiến pháp, đóng góp thêm một số khía cạnh cụ thể và đi đến thống nhất nội dung của Dự án. Sau nhiều buổi thảo luận và tranh luận sôi nổi, sửa đổi, bổ sung cho từng điều cụ thể, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp 1946 với sự nhất trí của 240/242 đại biểu dự họp.

Hiến pháp 1946 khá đơn giản, có 70 điều, được xây dựng trên tư tưởng pháp quyền, tự do dân chủ của công dân, và quy định những vấn đề cơ bản nhất của nhà nước.

Đặc điểm cơ bản của Hiến pháp năm 1946 được thể hiện trong 3 nguyên tắc cơ bản, đó là: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo trên cơ sở của nhà nước pháp quyền với quyền tự do dân chủ của công dân. Do hoàn cảnh lịch sử của nước ta thời ấy nên Hiến pháp 1946 tuy có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn có mặt bị hạn chế, phải dung hòa. Cụ Nguyễn Sơn Hà là đại biểu Quốc hội Khóa I của Việt Nam bỏ phiếu chống chỉ vì Hiến pháp không có Điều nói về tự do kinh doanh. Ngẫm suy, mới thấy sinh hoạt Quốc hội thực sự dân chủ ngay từ thời mới lập nước Việt Nam để phát huy trí tuệ của toàn dân.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1789 có tính quốc gia hiện đại lâu dài nhất trên thế giới nhưng thực ra, nó cũng chịu ảnh hưởng của Hiến pháp Anh. Xin ghi lại nguyên văn câu đầu tiên của Hiến pháp Hợp chủng quốc Mỹ (từ “Hợp chủng quốc” dịch không chuẩn từ “United States”) ” CHÚNG TÔI, NHÂN DÂN Hợp chủng quốc, với mục đích thực hiện một sự liên hiệp chặt chẽ hơn, thiết lập công lý, duy trì an ninh nội bộ, trù liệu công cuộc phòng thủ chung, phát triển sự thịnh vượng toàn diện và bảo đảm cho chúng tôi và hậu thế của chúng tôi các lợi ích của sự tự do, quyết định và thiết  lập hiến pháp này cho Hợp chủng quóc Mỹ”.

Câu nói trên, là của những người biết cách viết Hiến pháp. Còn chất lượng của Hiến pháp, và nhất là giá trị của sự thực hiện Hiến pháp, thì phải nghiên cứu, phân tích trong thực tế cuộc sống. Hiện nay, ở nước ta một số người vẫn có phần úy kỵ với tam quyền phân lập mà hay dùng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Nếu đi sâu phân tích về tam quyền phân lập, bản chất là 3 nhánh quyền lực không chỉ phân lập mà còn kết hợp hài hòa chặt chẽ và kiểm tra giám sát lẫn nhau trên nền tảng là trung thành với nhân dân.

Văn bản luật của một nhà nước gồm một hệ thống từ Hiến pháp đến các văn bản lập pháp ban hành và hướng dẫn thực hiện. Pháp luật nhà nước là công cụ phục vụ cho các giá trị xã hội cho nên Đảng phải chủ động đặt lên bàn nghị sự thảo luận những vấn đề cốt lõi của thể chế hiện nay.

Ba quan điểm sửa đổi Hiến pháp 92

Hiến pháp 1992 gồm 12 chương, 147 điều được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Khóa VIII, kỳ họp thứ 11 nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 15/4/1992 do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký.

Nếu đọc kỹ bản Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có Lời nói đầu 2 trang, 6 đoạn, cần phải sửa để người đọc thấy rõ đó là lời của nhân dân Việt Nam. Đó là mới chỉ nói về viết văn bản Hiến pháp. Người dân hiểu được tiến trình quốc gia thông qua Hiến pháp có quan hệ mật thiết đến hoàn cảnh chính trị và lịch sử văn hóa của dân tộc. Việc quan trọng nhất là phải xác định nội dung Hiến pháp xây dựng trên các nguyên tắc nào, các quan điểm xây dựng Hiến pháp và các phương pháp thực hiện.

Theo chúng tôi hiểu, hiện nay có 3 quan điểm sửa đổi  Hiến pháp 1992.

Thứ nhất, là chỉ sửa một số điểm trong Hiến pháp để làm cơ sở sửa những luật cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện và cho Thủ tướng Chính phủ quyền bổ nhiệm các chủ tịch tỉnh, cơ chế bảo vệ Hiến pháp và  quyền bầu cử. Có thể nói đây là quan điểm cho mục tiêu trước mắt.

Quan điểm thứ hai là  trả lại cho dân quyền làm chủ đích thực: “Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Ông Nguyễn Văn An đã có thời kỳ đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Quốc hội. Qua trải nghiệm của thời gian, thấy rõ những khiếm khuyết, bất cập của Hiến pháp 1992 nên Ông đã mạnh dạn đề xuất quan điểm thứ hai nói trên hay nói cách khác đây là mục tiêu lâu dài.

Sửa đổi Hiến pháp 1992 là một dịp rất tốt để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa do Đảng phát động thông qua dư luận xã hội. Ý kiến của xã hội dân sự lành mạnh sẽ là chỗ dựa tin cậy và chắc chắn cho lực lượng cầu thị trong Đảng.

Quan điểm thứ ba dựa trên thể chế chính trị dân chủ của học hỏi và phát triển,  cần Đổi mới Đảng và khởi động cuộc vận động cả nước đi vào quá trình dân chủ hoá đất nước.

Chúng tôi nhận thấy những ý kiến nêu trên rất cần thiết phân tích, đánh giá. Những người  đương chức, có trách nhiệm cần sắp xếp, thể hiện tính lô-gích nội tại của sự vật, của thực tế bởi vì Hiến pháp 1992 không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội sau 20 năm đổi mới.

Thiệt thòi là lịch sử phát triển xã hội ở nước ta không trải qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa nên không có được kinh nghiệm tri thức và cơ sở vật chất cho nên phải mò mẫm theo định hướng riêng, do đó, gặp phải nhiều khó khăn, trắc trở cũng là điều dễ hiểu. Trong thời đại hội nhập và phát triển chúng ta cần phát huy tính tự cường của dân tộc, đồng thời khiêm tốn, học hỏi các tinh hoa của nhân loại để tiến cùng thời đại.

Người dân luôn quan tâm làm thế nào để Hiến pháp được thực thi một cách minh bạch, hữu hiệu trong đời sống thực tế. Ngay bản Hiến pháp trước đây của Liên Xô trên văn bản là đảm bảo quyền tự do lập hội hay quyền tự do ngôn luận nhưng thực tế diễn ra không phải như vậy. Ở các nước tiên tiến, Hiến pháp được bảo vệ bằng Tòa  án Hiến pháp hoặc Tòa án tối cao.

Việc sửa đổi Hiến pháp 1992 để có thể áp dụng hữu hiệu trong thực tế, đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển, phải được xây dựng trên tư duy phân rõ trách nhiệm, quyền hạn, và giám sát lẫn nhau của 3 cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước: Lập pháp – Hành pháp và Tư pháp; Các cơ quan Truyền thông, báo chí và Kiểm toán độc lập không nằm trong bộ máy tổ chức nhà nước nhưng là trung tâm quyền lực xã hội cần được luật hóa bảo đảm quyền lực trong xã hội dân sự, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật và xã hội. Nói cách nôm na, xã hội cần có 5 trung tâm quyền lực nói trên  hay còn gọi là “ngũ quyền” để kiểm tra, giám sát lẫn nhau.

Sửa đổi Hiến pháp 1992 có thể xem là một dịp rất tốt để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa do Đảng phát động thông qua dư luận xã hội. Ý kiến của xã hội dân sự lành mạnh sẽ là chỗ dựa tin cậy và chắc chắn cho lực lượng cầu thị trong Đảng.

Trong bối cảnh đất nước hiện nay, mọi sự cải cách cơ bản chỉ có thể do bộ phận lãnh đạo chủ chốt của Đảng phát động, chỉ đạo thực hiện và phải thực sự cầu thị lấy tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu phát triển của thời đại làm nền tảng.

Hiến pháp dân chủ về bản chất nhân dân phải là người ra quyết định làm chủ quốc gia. Nội dung chủ yếu của các quyết định ấy được tạo thành hệ thống pháp luật. Nguyên tắc quan trọng nhất là tất cả quyền bính trong nước đều thuộc về nhân dân.  Bởi vậy, chúng  tôi đề nghị khi sửa bản Hiến pháp 1992 , thì ngay câu đầu tiên phải viết như sau:

“Chúng tôi, dân tộc Việt Nam quyết định và công bố những điều khoản sau đây, với trách nhiệm lịch sử trước các thế hệ người Việt Nam hiện nay và mai sau, trước các dân tộc, các quốc gia trong cộng đồng quốc tế” .

Tô Văn Trường
Nguồn: Tuần Việt Nam

Lòng dân và hiến pháp dân chủ

Mấy tháng qua lãnh đạo đảng, nhà nước có những chuyến đi, bài viết, việc làm, cách xử lý công việc gây tranh cãi về nhiều mặt liên quan đến đảng cầm quyền, cá nhân người lãnh đạo.

Nhiều chuyến đi Trung Quốc của đại diện đảng, chính phủ, quốc hội, quân đội …bị dư luận xã hội mỉa mai. Thậm chí có trang blog đăng lại tấm hình bắt tay khúm núm kiểu ‘tiểu quốc thiên triều’. Chẳng rõ lãnh đạo đảng, nhà nước có thấy vậy không.

Hay có người cho đó là truyền thống văn hóa Á đông: nước nhỏ phải thờ nước lớn, giữ phận con em với cha anh.

Chuyến đi của Tổng Bí thư đảng đến Nga được truyền thông chính thống đưa tin là thành công tốt đẹp thì lại bị dư luận cho là ‘lạm quyền’, vi hiến. Hiến pháp CHXHCN Việt nam nói đảng lãnh đạo, chứ không nói đảng có quyền làm thay công việc của nhà nước, chính phủ. Mà cũng chính đảng cam kết’ lãnh đạo nhưng không làm thay’. Cam kết mà không tuân thủ thì lãnh đạo thế nào được.

Trong những việc gây xôn xao, chấn động dư luận xã hội phải kể đến thông báo về kỳ họp thứ 32 của Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng. Trong nhiều chục vụ việc thông báo nói đến thì vụ biến ‘trường học thành lầu xanh’ ở Hà Giang và vụ vỡ nợ của ‘quả đấm thép’ Vinashin được dư luận quan tâm nhiều nhất. Nhưng dư luận xã hội không cho đó là những vụ điển hình tuy có gây ra tổn thất về uy tín rất lớn cho đảng và chính phủ.

Vụ ‘trường học thành lầu xanh’ ở Hà Giang chỉ là một vụ cá biệt nằm trong một mảng tội ác bao trùm mà mấy năm trước báo chí gọi là ‘đổi tình lấy điểm’, các tổ chức nhân quyền quốc tế thì gọi là tội ác “buôn bán phụ nữ, trẻ em”.

Mà thứ tội ác biến ‘trường học thành lầu xanh’, buôn bán phụ nữ trẽ em làm nô lệ tình dục ở Hà Giang là không cá biệt. Những nơi khác, những cấp khác từ cơ sở trở lên không có hay sao? Tệ nạn đó chỉ xảy ra ở cấp tỉnh hay đã leo lên cao từ lâu rồi?

Vụ Vinashin bộc lộ đặc điểm ‘vô chính phủ’ của nhà nước pháp quyền. Cả một bộ máy cai trị khổng lồ, với một bản thông báo và bộ máy truyền thông nhà nước là đủ để buộc tội chết một ai đó, chẳng cần tòa án xét xử. Một ông Tô Hà Giang còn được nói đi nói lại. Ông chủ tịch Phạm Thanh Bình không có được một lời ‘nói lại cho rõ’. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kết án người ta bằng thông báo truyền thông thì có vi phạm nhân quyền, có vi hiến không hay đó là đặc trưng của nhà nước XHCN, của nhân quyền kiểu châu Á, kiểu Việt Nam ?

Một đặc trưng khác của vụ Vinashin là phương thức, tập quán của quyền lực cai trị không giống ai: đẩy trách nhiệm lên trên, ấn trách nhiệm xuống dưới. Ai gật đầu cho Vinashin làm những việc dẫn đến phá sản? Chặt cánh tay thừa hành, chừa cái đầu ban lệnh là cách hay nhất làm cho nội bộ đảng cầm quyền rối ren, sinh ra bè phái, tàn hại lẫn nhau. Xã hội mỉa mai: đồng chí không bằng đồng tiền. Nghiêm túc đánh giá thì phương thức đổ vấy trách nhiệm đó là một đặc trưng của kiểu cai trị chuyên chính vô chính phủ.

Nhưng nguyên nhân sâu xa của thái độ đổ vấy trách nhiệm cho nhau trong quyền lực cai trị còn là do cơ chế hai quyền lực (đảng-nhà nước) cai trị trong một quốc gia (dẫn đến vô chính phủ).

Trong nhiều cái tệ sinh ra do cơ chế hai quyền lực thì có tổ chức bộ máy cai trị khổng lồ háu đói, thiếu tâm, thiếu tầm, dám làm không dám chịu. Bao nhiêu trong số nợ hàng tỷ đôla của Vinashin dùng để nuôi bộ máy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể?

Quốc hội Việt Nam dự kiến bàn việc sửa Hiến pháp vào cuối năm nay

Người dân còn suy ra, dự án khổng lồ này nọ không phải để có công trình thế kỷ, vĩ đại mà chỉ là thủ pháp kiếm tiền nuôi bộ máy. Nghĩ thế cũng có phần đúng. Cứ có dự án, cứ có giải ngân một ít là mục đích của nhà cầm quyền. Nếu không làm như vậy thì lấy tiền ở đâu để chạy bộ máy? Dù cho có bị chỉ trích, phản đối thì bằng mọi cách có ít tiền giải ngân từ các dự án là tốt rồi. Thiếu tiền cho quyền lực cai trị hai bộ máy là nghiêm trọng cho nên việc tăng thuế, tăng phí, tạo ra nguồn thu mới, vay nợ… dù có làm hại người nghèo thì đảng vẫn tiến hành.

Giải pháp căn cơ cho những việc như thông báo của UBKTTƯ đảng không phải chỉ là khai trừ ông này, bỏ tù bà nọ…mà cần sửa tận gốc nền tảng cai trị lôi thôi hiện nay.

Trong cái mớ ‘hỗn quân hỗn quan’ tiền đại hội Đảng, cũng đã có vài tín hiệu đáng quan tâm, được dư luận xã hội biểu dương. Trong những việc đáng mừng thì có tin báo chí cho hay Quốc hội sẽ thảo luận việc Bấm tu chính (sửa đổi) Hiến pháp vào cuối năm.

Theo tôi, tu chính Hiến pháp là việc tối cấp bách, đặc biệt quan trọng cần có thời gian và tổng hợp trí tuệ của tòan dân tộc. Nên chăng phải có một Đại hội Quốc dân bàn việc sửa đổi hiến pháp trước khi quốc hội làm nhiệm vụ ‘lập hiến’? Nó sẽ quy tụ nhiều thành phần xã hội, nhiều cá nhân tiêu biểu, tổ chức chính trị, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, đảng phái… trong và ngoài nước mà chủ đề thảo luận là: “Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhà nước pháp quyền, phát triển bền vững và hội nhập, chế độ trách nhiệm của bộ máy nhà nước”.

Thỏa mãn những tiêu chí đó thì chủ nghĩa xã hội hay dân chủ kiểu nào đương nhiên đều được thỏa mãn mà những bi hài nêu trong thông báo của UBKTTƯ đảng sẽ nhanh chóng bị đẩy lùi.

Tôi nghĩ, đã tự nhận là con cháu Bác Hồ thì đảng viên cộng sản cũng phải có những việc làm ‘chấn động địa cầu’ như thế. Nếu nghĩ được như vậy thì thay vì tập trung sức tranh giành ghế, hãm hại nhau vì đại hội đảng, tôi kiến nghị với thành phần tiến bộ nhất trong đảng (đương chức hay nghỉ hưu) nên có quyết sách tập trung sức lực, trí tuệ cho quốc dân đại hội và việc sửa đổi Hiến pháp cùng việc đặc xá tù nhân tội chống đảng, chống chủ nghĩa xã hội để chứng tỏ thành ý vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Trần Minh Thảo
Nguồn: BBCVietnamese


Được khẳng định 6 lần trong Hiến pháp, nhưng chưa một lần được thực thi

Lịch sử hơn 60 năm chế độ CSVN cho thấy, người dân Việt Nam không thể chờ đợi sự ban phát quyền lợi từ chế độ Cộng Sản cho họ. Người ta cũng không thể “đòi” một ân huệ nào của chế độ, mà phải “giành lấy”.

Cho đến nay đã qua 64 năm, kể từ năm 1946 bản hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, nước Việt Nam (trước năm 1954, miền Bắc từ 1946 đến 1975, cả hai miền Nam – Bắc sau 1975), đã công bố và đưa vào thực thi 4 bản hiến pháp. Đó là những bản hiến pháp ra đời vào các ngày: 09/11/1946; 31/12/1959; 18/12/1980; 15/04/1992.

Ngoại trừ hai bản hiến pháp năm 1959 và 1980 có đặc thù thời chiến và nặng tính bao cấp, đi theo hoàn toàn đường lối tăm tối của Chủ Nghĩa Xã Hội phi dân chủ. Cả hai bản hiến pháp năm 1946 và 1992 được chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đánh giá là những bản hiến pháp hàm chứa tinh thần Nhân Đạo và Dân Chủ cao. Riêng bản hiến pháp 1946 còn được một vài chuyên gia về chính trị xã hội trong nước và quốc tế đánh giá là một hiến pháp tiến bộ, đến nay vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn.

Vì lý do Chiến Tranh Đông Dương xảy ra vào 19/12/1946 nên cuộc tổng tuyển cử toàn quốc bầu Nghị Viện đã không được thực hiện, hiển nhiên bản hiến pháp 1946 trở nên mất điều kiện áp dụng. Đây cũng là một cơ hội thuận lợi về thời gian để Cộng Sản Quốc Tế đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc, nhúng tay thao túng và điều khiển nền chính trị xã hội Dân Chủ non trẻ tại Việt Nam đi theo con đường của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Nói “nền chính trị xã hội Dân Chủ non trẻ của Việt Nam” vì bản thân từ Tuyên Ngôn Độc Lập (02/09/1945) đến cơ cấu chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đặc biệt là bản hiến pháp năm 1946, đều thể hiện Việt Nam lúc ấy là một nước Dân Chủ có cơ cấu nhà nước đa nguyên đa đảng.

Đến nay, bản hiến pháp năm 1992 đã được công bố và có hiệu lực pháp lý 18 năm. Nói chung, tất cả 12 chương và 147 điều trong hiến pháp này, chế độ CSVN đều đã tiến hành thực hiện. Tuy cái cách thi hành hiến pháp theo tư tưởng Độc Tài Cộng Sản, tùy ý diễn ý các điều khoản hiến pháp theo hướng có lợi cho đảng cầm quyền là điều đã xảy ra. Đặc biệt là việc suy diễn Điều 4 Hiến Pháp 1992, nhằm đưa vị trí cầm quyền độc tôn vĩnh cửu của Đảng CSVN lên, là điều hết sức bất minh. Nhưng dù sao thì nó vẫn là điều khoản mà chế độ CSVN đã thi hành.

Nhưng có một vấn đề hết sức quan trọng, được nhấn mạnh tới 3 lần trong Hiến Pháp 1946, tại chương II Mục C, Điều 21; Chương III Điều 32; Chương VII Điều 70 phần C. Đồng thời điều này cũng được nhắc lại đến 3 lần trong Hiến Pháp 1992 tại Chương V, Điều 53; Chương VI Điều 84, Câu 14; Điều 91 câu 12. Đó là “Quyền phúc quyết của nhân dân” hay là vấn đề “Trưng cầu dân ý”. Cho đến nay là 64 năm đằng đẵng, chưa hề một lần được chế độ độc tài CSVN thực hiện. Điều này có thể là điều duy nhất trong hiến pháp mà họ cố tình “bỏ quên”…

Vấn đề lấy ý kiến của dân, cụ thể là thông qua hình thức “Trưng cầu dân ý” còn quá mơ hồ và xa sỉ đối với người dân Việt Nam trong chế độ Cộng Sản. Nhưng nó lại là một hình thức sinh hoạt chính trị xã hội rất bình thường, thể hiện tinh thần Dân Chủ ở các nước tự do. Muốn có một hay nhiều cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân được thành công. Trên cơ sở khoa học, chế độ cầm quyền phải đặt ra “Luật trưng cầu dân ý”. Luật này được đề ra nhằm đảm bảo tính khoa học và sự công minh của một cuộc lấy ý kiến nhân dân.

Việt Nam hiện nay chưa có “Luật trưng cầu dân ý”. Điều đó càng khẳng định sự gian manh của chế độ CSVN, họ sẽ viện cớ “chưa có luật trưng cầu dân ý” để khước từ ý kiến của toàn dân. Trước sức ép của giới luật gia trong nước và sự quan tâm của bạn bè quốc tế, ngày 02/06/2006 một cuộc hội thảo về dự luật trưng cầu dân ý do Hội Luật Gia Việt Nam chủ trì, được tiến hành tại Hà Nội. Nhưng cuộc hội thảo ấy cũng chỉ diễn ra vỏn vẹn có một ngày, sau đó chuyện “Trưng cấu dân ý” lại “rơi tõm” vào quên lãng…

Một vấn đề cần xem xét trong việc trưng cầu dân ý, đó là “Sáng kiến trưng cầu dân ý”, cụ thể là vấn đề gì thì phải cần trưng cầu ý kiến toàn dân?

Một quốc gia có hàng ngàn công việc và đề tài cấp nhà nước nhằm phát triển văn hóa, kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội vv… Thông thường, người ta chỉ trưng cầu dân ý những vấn đề đặc biệt quan trọng liên quan đến vận mệnh đất nước. Nhưng đôi khi chỉ là những đề tài “nhạy cảm” mà nhà nước không dám gánh chịu trách nhiệm, nếu quyết pháp của họ đem lại một kết quả xấu…

Tuy có thể tốn kém về tiền bạc chi phí cho một cuộc trưng cầu dân ý, nhưng có thể nói: “Tất cả mọi cuộc trưng cầu dân ý đều tốt, vì nó thể hiện tính Dân Chủ Toàn Dân”.

Hiến Pháp 1992 hiện nay của Việt Nam đang sử dụng, có nhiều chương, điều, không còn phù hợp với tiến trình phát triển đất nước, thậm chí nó đã tự mâu thuẫn ngay từ khi chưa ban hành. Đặc biệt, hiện nay Việt Nam đã gia nhập nền Kinh Tế Thị Trường, tức là quan hệ sản xuất và phát triển kinh tế theo mô hình đa thành phần của chế độ Tư Bản Chủ Nghĩa. Mặt khác, chính trị và kinh tế là hai vấn đề không thể tách rời trong sự phát triển của bất kỳ một quốc gia nào. Vì vậy việc sửa đổi hiến pháp cho phù hợp tình hình chung là điều tất yếu.

Nhưng sửa đổi, hoặc thay đổi những điều khoản nào của hiến pháp, lại là điều không thuộc quyền của dân. Trước hết, nếu như có một cuộc trưng cầu dân ý (trong giả định), thì việc đưa ra chủ đề (sáng kiến) nào để xin ý kiến toàn dân lại là do chế độ cầm quyền định đoạt.

Ai cũng biết: Điều 4 Hiến Pháp 1992 là bất công và bất minh. Nếu nghiên cứu kỹ thì điều 4 đó hiện nay là vô giá trị (*). Vì vậy Điều 4 Hiến Pháp 1992 cần bị xóa bỏ. Trong trường hợp nhà cầm quyền CSVN “tảng lờ” điều 4, mà lại đi sửa đổi những điều khoản khác của hiến pháp, thì coi như cuộc trưng cầu dân ý về việc sửa đổi hiến pháp đã hầu như không còn ý nghĩa nữa, vì điều 4 tai ngược kia, và sự cố tình (hoặc vô ý) hiểu sai về nó, mới chính là vật cản lớn nhất trên con đường dân chủ hóa đất nước.

Nhà cầm quyền CSVN sẽ phải trưng cầu dân ý, vì điều này đã được khẳng định tới 6 lần trong hai bản hiến pháp quan trọng: Một bản khai sinh ra nền móng chế độ, và một bản đang là “xương sống chính trị” của xã hội đương thời…

Động thái gần đây nhất của phía nhà cầm quyền CSVN, đó là việc cựu chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An đánh tiếng trên báo chí về việc cần phải sửa đổi hiến pháp. Dư luận đánh giá, không phải vô tình mà một vị cựu chủ tịch quốc hội, cựu ủy viên Bộ Chính Trị “bỗng nhiên” lên tiếng. Có thể tới đây, đồng thời chế độ CSVN sẽ cho ban hành “Luật trưng cầu dân ý” và thực hiện trưng cầu dân ý về việc sửa đổi một số điều khoản của hiến pháp.

Nếu điều trên xảy ra, nhân dân Việt Nam cần đồng loạt đưa ra sáng kiến trưng cầu dân ý, đó là: Xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp 1992 để tránh sự ngộ nhận về bản chất của điều khoản hiến pháp này…

Quốc hội Việt Nam hiện nay (theo hiến pháp 1992 không có Tòa Án Hiến Pháp) là cơ quan duy nhất có thẩm quyền sửa đổi hiến pháp. Họ tuy vẫn chịu sự chi phối nặng nề của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và vẫn chưa thể thoát khỏi vai trò bù nhìn mà họ “đảm nhận” mấy chục năm qua. Nhưng trước công luận của quốc tế, và trong hàng ngũ đại biểu quốc hội đã thấp thoáng bóng dáng của một vài nhân vật, vì lý do không được phân phối lợi ích hợp lý theo kiểu ăn chia, cũng có thể vì lý do danh dự, đã dám lên tiếng (tuy còn khá yếu ớt) về những bất hợp lý của nền chính trị độc tài…

Trước sức ép nặng nề về mọi mặt từ Trung Quốc, nhất là tình hình xâm lấn gia tăng của họ ở Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Hiện nay chế độ độc tài CSVN đã phải miễn cưỡng lựa chọn Hoa Kỳ làm đối tác đa diện, đặc biệt là về quân sự. Điều này mở ra một triển vọng mới về tiến trình Dân Chủ Hóa Việt Nam. Vì đối với Hoa Kỳ, một quốc gia muốn trở thành đối tác chiến lược của họ, thì dứt khoát phải có sự cải thiện về dân chủ.

Ngoài việc Phong Trào Đấu Tranh Dân Chủ Việt Nam có thể làm một cuộc cách mạng hạ bệ chế độ CSVN trong chớp nhoáng (điều này phụ thuộc quá nhiều yếu tố). Đã đến lúc chế độ độc tài CSVN không thể giữ mãi được vị trí độc tôn độc đảng của mình. Họ sẽ phải bắt tay vào việc cải thiện dân chủ, điều này rõ ràng là cần có một lộ trình. Điểm bắt đầu của lộ trình ấy, có lẽ chính là việc sửa đổi hiến pháp…

Lịch sử hơn 60 năm chế độ CSVN cho thấy, người dân Việt Nam không thể chờ đợi sự ban phát quyền lợi từ chế độ Cộng Sản cho họ. Người ta cũng không thể “đòi” một ân huệ nào của chế độ, mà phải “giành lấy”.

Nếu người dân Việt Nam biết đồng lòng giành lấy những quyền đã được chính hiến pháp của chế độ CSVN xác nhận, xuất phát từ quyền phúc quyết của toàn dân – “Trưng cầu dân ý”- Một hình thức Dân Chủ Trực Tiếp, mà bất cứ chế độ nào xưng là Dân Chủ đều phải chấp nhận. Thì triển vọng cải thiện Dân Chủ cho Việt Nam là điều sẽ đến. ■

Lê Nguyên Hồng
Nguồn: Lê Diễn Đức Weblog

Filed under: Chính Trị-Xã Hội, Pháp Lý-Công Lý, , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: