CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

TRAO ĐỔI VỚI THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN VĂN HƯỞNG VỀ NHÂN QUYỀN

Vừa qua tin nhà nước Việt Nam xuất bản Tạp chí Nhân quyền đã gây chấn động dư luận trong và ngoài nước, bởi hai chữ nhân quyền vốn được coi là chiêu bài của các thế lực thù địch và phản động thường lợi dụng để tiến hành diễn biến hòa bình, lật đổ chế độ. Hôm nay tôi có được đọc bài viết ” Hãy hiểu đúng về Nhân quyền ở Việt Nam” của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam.

Bài viết của đồng chí Thượng tướng có thể tóm tắt các nội dung là muốn truyền tới bạn đọc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền ở phương Tây và nhân quyền của người Việt Nam chỉ gói gọn trong những nhu cầu tối thiểu của con người là mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Được biết dưới con mắt của cán bộ chiến sĩ trong ngành công an thì đồng chí Nguyễn Văn Hưởng là một trong bảy thứ trưởng của Bộ Công an thuộc dạng có học, có sự hiểu biết, được mọi người tin tưởng và tôn trọng. Tôi cũng là một trong những số đó, xong bản thân tôi sau khi đọc bài viết của đồng chí trên Tạp chí Nhân quyền Việt Nam số đầu tiên, thì thú thực hơi thất vọng với sự tin tưởng của tôi đối với đồng chí Thượng tướng đã có từ rất lâu. Nhất là khi đọc tới đoạn viết dưới đây của đồng chí Thượng tướng, đã buộc tôi phải cầm bút viết vài dòng góp ý để đồng chí Thượng tướng rút kinh nghiệm (không viết thì sợ có lớp trẻ họ biết họ cười đồng chí Thượng tướng) trích “Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?”

Trước hết về cơ bản thì tôi đồng ý với đồng chí Thượng tướng khi viết (“trích) Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năm 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Nhưng trong toàn bộ đoạn trích trên đây của đồng chí Thượng tướng thì không hiểu đồng chí quên hay cố tình quên hai chữ tự do, mà đồng chí đã viết nhắc lại tới hai lần mà không hề phân tích, vì cái đó (tự do)theo tôi nó mới là cái quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai chữ tự do ấy nó có giá trị gấp ngàn lần việc có cơm ăn, có áo mặc và được học hành như đồng chí hiểu, cái ăn, cái mặc là lẽ tự nhiên để con người sống và tồn tại, nó cũng như khí trời vậy thôi, mà bất kể động vật nào cũng phải có. Đó là lẽ tự nhiên, đối với con người có nhân cách và phẩm giá thì hai chữ tự do là niềm khát khao thiêng liêng mà cả nhân loại đấu tranh hàng ngàn năm nay mới có được, cái đó là mới là cái lớn nhất. Đó chính là lý do vì sao Hồ Chủ tịch khi sinh thời đã nói “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”, điều đó đã được khẳng định dưới dòng chữ tên quốc hiệu đối với các văn bản hành chính và trong tập Ngục trung nhật ký, Hồ Chủ tịch đã viết “Đau khổ chi bằng mất tự do?” chứ Hồ Chủ tịch không nói đau khổ chi bằng không có cơm ăn, áo mặc, không được học hành…

Nếu còn chưa  tin, xin mời đồng chí Thượng tướng bớt chút thời gian vàng ngọc để đọc bài Khám phá nhà tù “thiên đường” ở Na Uy , xem tù nhân của họ cũng có cơm ăn, có áo mặc, được học hành đầy đủ đàng hoàng, nhưng hạn chế duy nhất là học không có quyền tự do như những công dân bình thường. Đó là cái mà pháp luật dùng để trừng phạt những tội phạm.

Chúng ta cùng ngược lại thời gian trước khi Hồ Chủ tịch trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946, đó là ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba đình lịch sử, Hồ Chủ tịch đã đọc những dòng sau đây trong bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (trích):

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Theo quan điểm của Hồ Chủ tịch thì con người ta sinh ra đều phải bình đẳng, mọi dân tộc đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, không phân biệt mầu da và tiếng nói. Vậy xin hỏi đồng chí Thượng tướng rằng đồng chí căn cứ vào đâu để cho rằng nhân quyền của các nước phương Tây không giống như nhân quyền của Việt Nam, khi đồng chí Thượng tướng viết(trích) “Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì? Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…”

Và khi đồng chí Thượng tướng đặt các câu hỏi “Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?” Điều đó cho thấy đồng chí Thượng tướng đã sai ngay từ khi đặt vấn đề của bài viết, cách đặt vấn đề như thế khác nào đồng chí cãi lại lời của Hồ Chủ tịch đã ghi trong Tuyên ngôn độc lập (trích) “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. (Vậy mà Bác Hồ nói đến hôm nay chúng nó còn cãi đấy!)


Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

Xin lưu ý đồng chí Thượng tướng đừng quên rằng không phải vô tình mà trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn từ Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Chúng ta có quyền hỏi rằng tại sao Hồ Chủ tịch không trích dẫn từ Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản hay Tuyên ngôn của nhà nước Liên xô? Câu trả lời cho đồng chí và bạn đọc hiểu rằng sau chữ “Tự do – Bình Đẳng và Bác ái” chính là động lực thúc đẩy Hồ Chủ tịch đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ của Thực dân Pháp. Đó chính là tư tưởng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi hết cả cuộc đời để mang lại. Vì sao bây giờ đồng chí Thượng tướng lại quên nhanh như vậy? Đảng và nhà nước ta luôn phát động các phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh với những chi phí hết sức tốn kém, mà những người hô hào nhiều nhất kêu gọi mọi người tham gia học tập là những người như đồng chí Thượng tướng. Vậy mà tiếc rằng ở cương vị lãnh đạo thứ trưởng cấp Bộ mà điều tối thiểu trong tư tưởng của Hồ Chủ tịch sao đồng chí vẫn không hay?

Từ bình đẳng  trong tiếng Việt là một tính từ để chỉ sự ngang hàng nhau về mặt nào đó trong xã hội, vậy tại sao đồng chí Thượng tướng nghĩ rằng người phương Tây khác người Việt Nam, chủng tộc da trắng mắt xanh mũi lõ phương Tây có quyền cao hơn người phương Đông tóc đen, mũi tẹt da vàng? Tại sao đất nước ta đã độc lập tròn 65 năm mà tư tưởng nô lệ “sợ thằng Tây” vẫn còn rơi rớt trong đầu óc những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam như đồng chí Thượng tướng vậy?

Trở về vấn đề nhân quyền, hai chữ nhân quyền ở Việt Nam hiện nay đã và đang bị nhà nước ta xuyên tạc, bóp méo và làm xấu đi rất nhiều trong suy nghĩ của người dân. Nhân quyền nói một cách đơn giản đó chính là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Mọi con người được sinh ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc. Con người sinh ra hơn con vật ở chỗ con người có quyền của mình đã được khẳng định tại Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Bản Tuyên ngôn này đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 và nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã phê chuẩn và là thành viên từ năm 1982.  Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là tuyên ngôn đưa ra một quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm,…

Theo bản Tuyên ngôn này thì Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết “Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này”.

Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền chính là quy định chung của các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, mỗi quốc gia khi đã đặt bút ký tham gia vào Công ước đó thì phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ,  bởi vì nó như một thứ luật quy định của một trò chơi cho bất kể quốc gia nào đã tham gia với tư cách thành viên. Khi Việt Nam không tuân thủ đúng và đủ các điều khoản quy định của Công ước quốc tế này thì các quốc gia khác với tư cách thành viên đương nhiên họ phải có quyền nhắc nhở và buộc Việt Nam phải thực hiện cho đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết thì đó là chuyện quá đỗi bình thường.

Những điều kể trên phải chăng đồng chí Thượng tướng, Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an không biết và không hiểu? Xong bản thân tôi không tin là như vậy!

Cũng xin được nhắc thêm đồng chí Thượng tướng cần xem lại bản Hiến pháp, nước CHXHCN Việt Nam trong Chương V từ điều 49 đến điều 82 đã ghi rõ quyền và nghĩa vụ của công dân. Xin trích ví dụ

” Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Điều 70: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

Hiến pháp là Luật pháp cao nhất của một quốc gia, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cũng vậy. Để tránh dài dòng xin để đồng chí Thượng tướng tự nhận xét đánh giá rằng nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN đã thực thi đúng và đủ những điều Hiến pháp quy định về quyền công dân (con người) hay chưa?

Chắc vì do quen thói thông tin một chiều, chỉ quen nói và không bao giờ có các thông tin phản biện ngược chiều nên có lẽ vì vậy mà đồng chí Thượng tướng hơi quá đà khi viết (trích) ” Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.”

Chắc có suy nghĩ như vậy bởi đồng chí Thượng tướng mỗi lần đi ra nước ngoài đều ngồi trong xe hơi bọc thép, nên đồng chí không hiểu được cuộc sống của người dân ở các nước tự do dân chủ kể cả nhóm các dân tộc thiểu số họ được nhà nước quan tâm tới mức nào? Xin đồng chí Thượng tướng đừng quên rằng với GDP bình quân đầu người ở Việt Nam mới xấp xỉ 1.000 USD/người xếp hạng 169/208 và sự chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam khoảng cách quá lớn thì làm sao mà có chuyện (trích) “Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy”. Câu này cho thấy đồng chí Thượng tướng thuộc dạng những người thích đùa không thì là lạc quan tếu.

Nói tóm lại khi đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với tư cách là một cán bộ lãnh cao cấp của đảng và nhà nước trong ngành Công an, đã làm cho tôi hơi bất ngờ trước bài viết của đồng chí. Toàn bộ bài viết trên của đồng chí Thượng tướng cho thấy 2 vấn đề cần suy nghĩ:

1. Trình độ nhận thức về lý luận chính trị đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, về độc lập và tự do của đồng chí Thượng tướng còn quá nhiều lỗ hổng về kiến thức.

2. Hoặc do đồng chí quá bận rộn, không có thời gian nên viết bừa viết ẩu theo đơn đặt hàng của Tạp chí Nhân quyền Việt Nam, theo yêu cầu bưng bít sự thật viết cho xong để lấy tiền nhuận bút.

Hy vọng một số trao đổi ngắn gọn của tôi góp ý cùng đồng chí sẽ giúp đồng chí hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà đảng và nhà nước trao cho trong giai đoạn cách mạng mới.

Chúc đồng chí khỏe, để đảm nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng trách được giao.

Xin gửi tới đồng chí lời chào Cộng sản.

Kami
Nguồn:
blog Kami

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam!

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam
Văn phòng Nhân quyền
Phát hành tháng một kỳ
Số 1, 6/2010

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng
Thứ trưởng Bộ Công An

Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…

Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…

Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?

Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?

Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .

Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.

Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.

Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.

Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.

Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.

Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạnh, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…

Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.

Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.

Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.

Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.

Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!

BS chú thích:

– Bài đăng trên tạp chí in, không có trên mạng, được đánh máy lại nguyên văn, không biên tập để đảm bảo tính chính xác về bản chất nội dung.

– Tấm hình có các vị chức sắc Phật giáo do nằm liền trên hai trang nên khi sao chụp chất lượng không được tốt. Với trang tạp chí có độ dày nhất định mà dàn tấm hình trang trọng như vậy làm hai, thành thử vị cao tăng Thích Thanh Tứ dễ bị “các thế lực thù địch” tưởng ta ám chỉ ổng “Thân này khoái xẻ làm hai mảnh/Mảnh cho đời và mảnh cho … quan”.

Nguồn: blog Ba Sàm

18.07.2010

Đôi lời về nhân quyền

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam tháng 6.2010 có bài viết rất đáng quan tâm của tướng Nguyễn Văn Hưởng nhan đề: “Hãy hiểu đúng về vấn đề nhân quyền Việt Nam”. Tướng Hưởng khẳng định nhân quyền phương Tây là cái mà nhiều thể chế dân chủ đa đảng trên thế giới muốn áp đặt tại Việt Nam. Ông viết: “Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Hàng thế kỷ trước văn hào Rudyard Kipling đã viết: “Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet – Đông là Đông và Tây là Tây, chẳng bao giờ cả hai gặp gỡ”. Đến nay, còn rất ít người tin vào điều đó. Tuy nhiên việc đồng hóa Đông – Tây là một trong những nhãn quan của các chính trị gia phương Tây hiện đại, ít nhất trong vấn đề dân chủ – nhân quyền. Nó hoàn toàn không tưởng về mặt lịch sử, khoa học cũng như xã hội.

1. Về mặt lịch sử

Nền văn minh Á Đông mà đất nước Việt Nam từng thuộc về đã tồn tại không hề gián đoạn ít nhất là hơn ba ngàn năm nay (thời điểm chữ viết tượng hình hoàn thiện và không thay đổi nhiều cho đến hôm nay), nếu không muốn nói là năm ngàn năm. So với văn minh Hy – La tiền thân của văn minh phương Tây, cấu trúc của Á Đông phải nói là có thời gian thử thách và bền bỉ hơn rất nhiều, nó phát triển theo kiểu xoáy trôn ốc cực kỳ chặt chẽ. Văn minh Trung Hoa, hạt nhân của văn minh Á Đông từng khiến Voltaire ngạc nhiên: “Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên bốn ngàn năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu…[1]”. Văn minh phương Tây hiện đại có thể tính tuổi từ thời Phục hưng cách nay vài trăm năm, là thành quả của sáng tạo phủ định (creative destruction). Đầu tàu văn minh phương Tây hôm nay là nước Mỹ. Sáng tạo phủ định giúp cho xứ sở ấy nhanh chóng vượt lên phía trước về mặt vật chất, nhưng khiến nó trở thành một đứa trẻ choai không có dân tộc tính, các bài học lịch sử nghèo nàn song lại thích võ đoán và áp đặt.

Hai nền văn minh đang đề cập có những cách khác nhau để tiếp cận tương lai.

2. Các khảo sát khoa học

Từ năm 2005, tôi đã để ý đến kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học của Đại học Michigan thực hiện, về cách nhận thức thế giới khác nhau của người Á Đông và người phương Tây[2]. Họ kết luận: “Người Á Đông sống trong mạng lưới quan hệ xã hội phức tạp với những giềng mối định vị bắt buộc. Do đó tập trung vào bối cảnh tổng thể là quan trọng để thực hiện chức năng có hiệu quả. Ngược lại, người phương Tây sống trong một xã hội ít áp lực tác động đến sự độc lập cá nhân, điều đó cho phép họ giảm thiểu sự chú ý đến bối cảnh”. Và: “Con người từ những nền văn hóa khác nhau xác định điều họ quan tâm khác nhau, dù họ có chia sẻ với nhau cùng một không gian sống. Kết quả là chúng ta nhìn thế giới với những diện mạo khác nhau, bằng những cách khác nhau”.

Cũng tại Michigan, trong một thí nghiệm khác, giáo sư Richard Nisbet rút ra kết luận: “Tư duy của phương Tây là tư duy kiểu trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám. Có thể nói tư duy kiểu này là tư duy đơn giản một chiều, khá cứng nhắc và có thể dẫn đến những hành động cực đoan, vì nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Nó sẽ khăng khăng cho rằng trách nhiệm thuộc về một phía và phía này phải sửa đổi hành vi để cải thiện tình hình. Chính vì trong thực tế cuộc sống không có nhiều tình huống “giấy trắng mực đen rõ ràng” như vậy nên tư duy theo kiểu này không giúp làm cho xung đột khá hơn mà làm cho nó tồi tệ đi, và khi mức chịu đựng giữa hai phía chạm đến giới hạn cuối cùng, bạo động sẽ phát sinh[3]”.

3. Quan sát xã hội

Để bớt chữ nghĩa, phần này tôi xin dẫn vài tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Trung Quốc Lưu Dương (Yang Liu) trong cuộc triển lãm “Phương Đông gặp gỡ phương Tây” tại Berlin năm 2007[4]. Màu xanh thể hiện phương Tây, màu đỏ thuộc về phương Đông:

Ý kiến

Phương thức sinh hoạt

Tự ngã (cái tôi)

Trẻ em

Người già


Ăn tiệc

Xử lý vấn đề

Tôi thích nhất bức poster “Xử lý vấn đề”. Nó cho thấy tư duy sáng tạo phủ định thuộc về phương Tây. Ngược lại, người phương Đông đi vòng và vượt qua vấn đề. Ở Việt Nam có câu “sống chung với lũ” rất thông minh và hóm hỉnh.

*

Với tất cả những dẫn chứng điển hình như trên, tôi nghĩ ở Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung, tồn tại giá trị nhân quyền của riêng mình, tương đương với phương Tây, tạm gọi là quần quyền. Tỉ dụ: trước khi văn minh phương Tây quảng bá những điều tốt đẹp của mình ở mảnh đất này, với người phương Đông ngày giỗ luôn quan trọng hơn sinh nhật. Ngày giỗ không hoàn toàn dành cho người đã khuất và tiên tổ. Nó củng cố mối quan hệ của những người đang sống. Nếu sinh nhật như là hành vi cổ xúy nhân quyền thì giỗ kỵ chính là sự tôn vinh quần quyền.

Quay trở lại bài viết của tướng Hưởng, tôi thấy ông có lý khi (tôi) đặt đoạn văn này: “Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dân Việt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ ‘ăn no mặc lành’ thì bây giờ khái niệm ‘ăn ngon mặc đẹp’ đã trở thành phổ biến ở Việt Nam”; bên cạnh phân tích của Bill Hayton: “Đầu tư và tài trợ quốc tế không mang lại dân chủ và đa đảng cho Việt Nam; ngược lại, nó giúp cho hệ thống cai trị độc đảng trở nên hiệu quả và hiệu lực hơn. Đó là cách mà Đảng muốn. Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn đối với đa số người dân Việt Nam, và chừng nào xu thế này còn tiếp tục, chừng đó mọi việc vẫn sẽ như bây giờ[5]”.

Mọi việc vẫn sẽ như bây giờ? Bill Hayton một lần nữa chứng minh tư duy nhị nguyên điển hình của người phương Tây. Ở phương Đông, chúng ta luôn nhìn thấy động trong tĩnh và ngược lại. Tôi không nghi ngờ vào quá trình chuyển hóa không ngừng nghỉ của xã hội Việt Nam. Tôi tin bất cứ ai thích thú với cách xử lý vấn đề “sáng tạo phủ định” made in USA sẽ luôn nhận về sự thất vọng mà thôi.

Ở Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung nhân quần quyền là như vậy. Lịch sử đã chứng minh cách mạng chỉ có thể đi vòng qua chướng ngại, vượt lên chướng ngại mà không nên hủy phá. Nếu muốn hủy phá thì trước tiên phải phá tan nền văn hóa cố kết bởi năm mươi thế kỷ. Đó lại là một câu chuyện khác, có lẽ tôi sẽ đề cập ở một bài viết khác.

Bài viết chào đón chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, tháng 7.2010.

© 2010 Trương Thái Du

© 2010 talawas


[1] Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, trang 20, Nguyễn Hiến Lê dịch, dẫn từ quyển Khảo luận về phong tục của Voltaire.

[2] http://news.bbc.co.uk/2/hi/health/4173956.stm

[3] Dẫn theo: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=101&CategoryID=37&News=2547

[4] http://yangliudesign.blogspot.com/2007/07/ost-trifft-west-east-meets-west.htmlhttp://www.gabyu.com/2007/09/07/comparaison-allemagne-chine/

[5] http://www.talawas.org/?p=22561

Việt Nam xuất bản Tạp chí Nhân quyền

Hôm thứ Tư vừa qua, trong lúc tiếp tục đối mặt với những đòi hỏi cải thiện nhân quyền từ nhiều phía, giới hữu trách Hà Nội đã cho xuất bản tạp chí đầu tiên về nhân quyền. Phát biểu tại buổi lễ ra mắt tạp chí Nhân quyền Việt Nam tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nói rằng một trong những mục tiêu của tạp chí này là phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch. Ban Việt Ngữ chúng tôi đã tiếp xúc với một số nhân vật tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam, thường được nhà chức trách Hà Nội liệt vào hàng ngũ những người thuộc “các thế lực thù địch”, để tìm hiểu ý kiến của họ về diễn tiến đáng chú ý này. Mời quí thính giả theo dõi thêm chi tiết trong tiết mục Nhìn Về Á Châu với Duy Ái sau đây.

Hoa Kỳ, Liên hiệp Âu châu và các tổ chức nhân quyền quốc tế thường xuyên chỉ trích Việt Nam về việc cầm tù những người bất đồng chính kiến bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa
Hình: ASSOCIATED PRESS

Việt Nam thường xuyên bị Hoa Kỳ, Liên hiệp Âu châu và các tổ chức nhân quyền quốc tế chỉ trích về việc cầm tù những người bất đồng chính kiến bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa

Ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam, là người đã lên tiếng phê phán tình hình nhân quyền ở Việt Nam tại nhiều diễn đàn quốc tế trong nhiều năm qua, nổi bật là tại hội nghị Kiểm điểm Định kỳ Phổ cập (UPR) của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam được tổ chức lần đầu tại Geneve năm 2009.

Ông cho biết cảm tưởng như sau về việc chính phủ Việt Nam cho xuất bản Tạp chí Nhân quyền.

Ông Ái cho biết: “Hiện nay vấn đề thông tin rất quan trọng. Càng có sự hiện diện của một tờ báo thì càng hay. Đặc biệt là nếu tờ báo đó lại đề cao vấn đề nhân quyền. Hiển nhiên tôi rất tán dương Nhà nước Việt Nam có một cử chỉ mới là ra một tạp chí về nhân quyền.”

Mặc dù vậy, nhân vật tranh đấu bị nhà chức trách Hà Nội nhiều lần lên án là “phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam” này cũng tỏ ý lo ngại là chính phủ Việt Nam vẫn chưa có quyết tâm thay đổi chính sách về nhân quyền.

Ông nói như sau: “Trên 700 tờ báo của nhà nước Việt Nam cũng như các cơ quan truyền thông đại chúng trong 35 năm qua đã làm cái công tác đó rồi. Sự hiện diện của Tạp chí Nhân quyền nó không thêm cái gì hết! Đặc biệt, bản tin của Văn phòng Thủ tướng nói rằng Tạp chí Nhân quyền là tiếng nói tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, thì đương nhiên là “bình mới rượu cũ”. Bởi vì nhân quyền không phải là vấn đề tuyên truyền mà là vấn đề bảo vệ con người tại Việt Nam. Đó là điều làm chúng tôi lo ngại.”

Giáo sư Võ Văn Ái, đang cư ngụ ở Pháp, kêu gọi chính phủ Việt Nam xem xét lại và đảo ngược quyết định bác bỏ 43 khuyến nghị về nhân quyền mà các nước trên thế giới – trong đó có Hoa Kỳ và nhiều nước Âu châu, đã nêu lên tại cuộc họp ở Geneve năm ngoái. Ông cũng đề cập tới sự kiện là Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp ước quốc tế liên quan tới việc bảo vệ quyền con người, trong đó có Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam chứng tỏ cam kết của mình về việc thực thi và bảo vệ các quyền con người bằng cách tuân hành những văn kiện đã ký kết với cộng đồng quốc tế.

Ông Ái nói: “Giờ đây nếu Nhà nước Việt Nam muốn thay đổi chính sách nhân quyền thì chỉ cần áp dụng Công ước đó. Tôi nghĩ rằng [nếu được vậy] chẳng những nhân dân trong nước mà tất cả đồng bào hải ngoại cũng như quốc tế sẽ vỗ tay hoan nghênh Nhà nước Việt Nam.”

Bác sĩ Nguyễn Đan Quế – đang bị giam lỏng ở Sài Gòn, là người đã xướng xuất một phong trào tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, có tên là Cao trào Nhân bản. Ông đã bị giới hữu trách Hà Nội tuyên án 20 năm tù sau khi công bố bản cương lĩnh của phong trào tranh đấu bất bạo động vào ngày 11 tháng 5 năm 1990. Đến năm 1994, Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là ông Bill Clinton đã ký kết một đạo luật để chính thức ấn định ngày 11 tháng 5 là Ngày nhân quyền cho Việt Nam. Bác sĩ Quế đã có nhận xét như sau về việc chính phủ Việt Nam cho xuất bản Tạp chí Nhân quyền.

Bác sĩ Nguyễn Đan Quế nói: “Cái cốt lõi của chủ nghĩa Cộng Sản của họ là không thật tâm tôn trọng nhân quyền. Về chiến thuật, để được hưởng những viện trợ về kinh tế, đầu tư, buôn bán … họ biết rằng không có cách nào tránh được chuyện không làm một số những nhượng bộ về tôn trọng nhân quyền. Đây là họ đang muốn dọ dẫm để xem có thể nhượng bộ, làm vừa lòng những đòi hỏi về nhân quyền trong nước, ngoài nước cũng như của thế giới, nhất là của Hoa Kỳ và Tây phương, đến mức độ nào mà vẫn duy trì được cái độc tài toàn trị.”

Bác sĩ Nguyễn Đan Quế cũng nhắc lại những nhận xét của các tổ chức nhân quyền quốc tế và các nhà quan sát tình hình Việt Nam là những hành vi chà đạp quyền con người đã gia tăng tại Việt Nam trong vài năm gần đây, trong đó có việc tuyên án tù cho gần 20 người bày tỏ quan điểm chính trị khác với nhà cầm quyền. Ông giải thích thêm như sau về ra đời của Tạp chí Nhân quyền Việt Nam – một hành động của chính quyền ở Hà Nội mà ông gọi là để thích ứng với tình hình mới:

Bác sĩ Nguyễn Đan Quế nói thêm: “Từ khi chính quyền Obama lên thì có một sự thay đổi khá lớn trên toàn cầu theo chủ nghĩa đa phương, tức là tiếp xúc với tất cả các nước để giải quyết các vấn đề lớn của thế giới. Riêng về vấn đề nhân quyền, Tổng thống Obama, trong thế chiến lược về an ninh có nói rõ là bây giờ chính quyền Mỹ sẽ đề cập đến vấn đề này bằng hai ngả: một mặt thì hợp tác với các chính quyền, và mặt khác thì tiếp tục ủng hộ những cá nhân hay những phong trào đứng lên tranh đấu cho nhân quyền. Nhưng tất cả hai cách đều làm một cách kín đáo hơn, khác với chính quyền Bush lúc trước là có tính cách công khai, lên án, kết tội … Hiện chưa biết kết quả ra sao vì đây mới chỉ là bước đầu. Nhưng gần đây tôi thấy có một cái tin cũng đáng quan tâm. Đó là chính quyền Tây Ban Nha đã tiếp xúc với chính phủ Cuba theo một cách kín đáo và họ đã đạt được chuyện phóng thích một số tù nhân chính trị. Đây là một sự thay đổi mà Hà Nội thấy rằng có thể ra một tờ báo để bênh vực mà họ không sợ bị chỉ trích một cách quá mạnh bạo như trước. Họ hy vọng với cách tiếp cận kín đáo hơn họ cảm thấy thoải mái hơn khi lên tiếng qua một tạp chí công khai như vậy.”

Theo ghi nhận của hãng thông tấn AP trong bản tin đánh đi từ Hà Nội hôm thứ tư vừa qua, Hoa Kỳ, Liên hiệp Âu châu và các tổ chức nhân quyền quốc tế thường xuyên chỉ trích Việt Nam về việc cầm tù những người bất đồng chính kiến bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa. Tháng trước, công ty Google cũng chỉ trích chính phủ Việt Nam về việc ban hành những luật lệ mới để đòi hỏi những địa điểm internet công cộng phải cài đặt những phần mềm có thể ngăn chận việc truy cập một số website và theo dõi hoạt động của những người sử dụng.

Chính phủ Việt Nam nhiều lần nói rằng ở Việt Nam không có tù nhân chính trị mà chỉ có những người bị trừng trị vì vi phạm pháp luật. Họ cũng nói rằng việc hạn chế hoạt động internet có mục đích bảo vệ an ninh quốc gia và bài trừ tệ đoan xã hội.

Nguồn: VOA

Filed under: Chính Trị-Xã Hội, , ,

3 Responses

  1. mba says:

    0 viet nam tu do la nhu vay do

  2. Hiệu trưởng Sầm Nghi Đống Xương says:

    Việt Nam vẫn giữ vững truyền thống?

    Đầu bài tôi “khen” dân Cuba làm tốt hơn truyền thống “phá đường tàu” của Thanh Hóa trong cái thời đói rách. Nhưng nói như thế không phải hiện nay ở Việt Nam, mặc dù diều kiện kinh tế đỡ hơn nhiều, mà truyền thống ăn cắp tài sản công cộng ngừng phát triển.

  3. psonkhanh says:

    Không có hộ khẩu, không xin được việc làm, không được chữa bệnh, không xin được cho con cái đi học, không được có chỗ ở, không mua được đất, không xin được giấy phép làm nhà, đi đâu phải trình báo, có ai đến nhà, phải khai báo nghĩa là anh không sống, hoặc không tồn tại, hoặc chỉ là một người nhập cư trái phép ngay trên mảnh đất mà anh ra đời, tổ tiên và ông cha anh sinh sống. Anh bị phân biệt đối xử, anh bị tước hết quyền công dân, anh chỉ là một thứ vật nuôi trong tay chính quyền. Hãy di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, anh sẽ thấy hết nhân quyền Việt Nam là gì, và thế nào là tự do cư trú theo kiểu Việt Nam. Và kết hợp với một vị công an khu vực, mỗi vị giám sát vài nhà, một tuần hỏi thăm vài lần, thì coi như anh không ở trong tù mà giống như con chuột nuôi trong lồng. Không có gì vi phạm nhân quyền hơn chính sách hộ khẩu mà Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc sử dụng để bảo vệ chế độ độc đảng. Đây là “nhân quyền của riêng Việt Nam” và là “công việc nội bộ” của Việt Nam? Còn chuyện an ninh chìm chui vào hộp thư điện tử của dân, nghe trộm điện thoại và đọc trộm tin nhắn của dân…không phải là vi phạm nhân quyền mà là để chứng minh rằng chính quyền có thể “làm gì cũng được”.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: