CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

PHÁ RÀO Ở VIỆT NAM

Học giả Fulbright và luật sư nổi tiếng Lê Công Định vẫn đang đi tù ở Việt Nam. Gần đây, Tòa Phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ y án 5 năm kết tội ông “định lật đổ nhà nước”, và trả ông cùng hai người đồng cáo trạng trở về phòng giam. Lê Công Định nổi tiếng trong vụ án bảo vệ thân chủ nước mình trong vụ cá basa chống lại những hạn chế nhập khẩu của Mỹ; từng là phó chủ tịch Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh; từng tiếp các đoàn luật gia quốc tế; và kết hôn cùng cựu Hoa hậu Việt Nam. Số phận của ông xác định rõ ràng những giới hạn hoạt động chính trị mà Đảng Cộng sản cầm quyền cho phép.

Đảng có thể để yên cho Lê Công Định chừng nào ông chỉ kêu gọi cải tổ về pháp lý. Điều khiến họ coi ông vượt quá giới hạn là khi ông làm việc với các nhóm chống cộng ở Mỹ và việc ông tham gia vào một đảng chống đối có tổ chức. Dù những đòi hỏi của Lê Công Định kể từ những ngày ông còn là một nhà chỉ trích trung thành với chế độ không hề thay đổi –thực đơn thường thấy của các nhà vận động dân chủ: tự do ngôn luận và đa nguyên chính trị -, việc hợp tác với những người bị Hà Nội dán nhãn “các thế lực thù địch” đã niêm phong số phận ông.

Trường hợp Lê Công Định và 15 người khác bị bỏ tù trong những tháng gần đây vì những tội danh tương tự xác nhận một mô hình được thiết lập từ năm 2007 khi công an Việt Nam phá hủy mạng lưới bất đồng chính kiến Khối 8406 (được đặt tên theo ngày 8 tháng Tư năm 2006 – ngày nhóm tuyên bố thành lập). Khi đó, cũng như bây giờ, Bộ Công an rất rõ ràng về mục tiêu tấn công. Mặc dù vài trăm người ký tên ủng hộ Khối, công an chỉ khởi tố lãnh đạo khối, những người có mối liên hệ chặt chẽ với các nhóm hải ngoại. Công an có thể chấp nhận việc bàn suông về dân chủ, nhưng không chấp nhận tổ chức hoạt động chống lại nền cai trị độc đảng.

Đây là trụ cột không thể lay chuyển trong hệ thống chính trị Việt Nam, như đã ghi trong Điều 4 Hiến pháp: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Người ta dễ nghĩ rằng tại một nước đang nhận các khoản đầu tư nước ngoài khổng lồ và tự do kinh tế, kiểu ngôn ngữ như vậy chỉ đơn giản là di sản của quá khứ. Không phải như vậy. Về cốt lõi, hệ thống chính trị Việt Nam vẫn kiên trì theo đường lối Leninist. Tranh cãi bên trong Đảng là một việc; tranh cãi chống lại Đảng lại là một việc hoàn toàn khác.

Đúng là có những thay đổi trong những năm gần đây. Phạm vi tiếng nói mà Đảng chấp nhận lắng nghe chắc chắn đã được nới rộng. Quốc hội trở thành nơi tranh luận, một hình thức xã hội dân sự có điều tiết xuất hiện, và công nghiệp truyền thông mọc lên như nấm. Các nhà tài trợ thế giới đổ hàng triệu đô la và euro vào để thúc đẩy cải tổ pháp lý, đa nguyên chính trị và một hệ thống báo chí tốt hơn. Nhưng trong suốt toàn bộ quá trình cải tổ, Đảng Cộng sản luôn đi trước các nhà tài trợ vài bước.

Đảng cảm ơn khi nhận được tài trợ – và tỏ vẻ tuân thủ mục đích được nêu trong điều kiện tài trợ về “quản trị tốt” – nhưng sửa đổi chúng để củng cố chế độ cai trị độc đảng. Hãy xem một vài ví dụ sau:

Trong khi “phát triển pháp lý” tập trung vào việc thay đổi pháp luật để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế hòa nhập quốc tế, “cải cách tư pháp” vẫn nằm trong vòng kiểm soát của cơ cấu nội bộ của Đảng mà không có bất kỳ góp ý đầu vào đáng kể nào từ bên ngoài. Đảng hoàn toàn công khai thực tế là “các cơ quan dân cử” – cần hiểu: “các cơ quan do Đảng kiểm soát – vẫn tiếp tục giám sát hệ thống tòa án. Chánh án và thẩm phán phải được sự chuẩn y của chi bộ Đảng địa phương và phải có “Chứng chỉ Lý luận Chính trị” – thuật ngữ chỉ chứng nhận tốt nghiệp trường đào tạo của Đảng, tức Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Hơn một thập kỷ qua, các nhà tài trợ quốc tế đã thúc đẩy thể thức chế định mới cho hàng ngàn tổ chức được thành lập nhằm cung cấp các cơ sở thể thao, giải trí, dịch vụ xã hội, vận động cho các nhóm lợi ích quốc gia và cộng đồng địa phương. Nhưng “Tự do Lập hội” chưa bao giờ chạm được vào bộ luật. Mọi tổ chức “xã hội dân sự” vẫn phải đăng ký với các đoàn thể do Đảng kiểm soát.

Gần đây, chính quyền Việt Nam tuyên bố từ bỏ ý định thảo lại Luật Báo chí, bất chấp nhiều năm nỗ lực, bất chấp hàng chục các cuộc hội thảo được tài trợ và các chuyến tham quan tìm hiểu. Giới truyền thông vẫn được quản lý theo đường hướng Lê Nin. Vào thứ Ba hàng tuần, khoảng 100 tổng biên tập tới họp tại Bộ Thông tin và Truyền thông để nghe chỉ thị về những đề tài họ nên đăng và không nên đăng. Không hề có một nền truyền thông độc lập hợp pháp tại Việt Nam. Tất cả mọi tờ báo đều trực thuộc một bộ phận nào đó của nhà nước hoặc của Đảng Cộng sản.

Nhưng điều này không phải là toàn bộ câu chuyện – vì nếu chỉ có vậy, hẳn sẽ có rất ít tính năng động ở Việt Nam, và như ta biết, Việt Nam là một trong những xã hội năng động và hứng khởi nhất trên hành tinh này. Điều này xảy ra được là nhờ cán cân kỳ lạ giữa sự kiểm soát của Đảng, và sự thiếu kiểm soát, thể hiện qua những thực hành “phá rào”. Chẳng hạn từ những lĩnh vực mà tôi vừa đề cập ở phần trên:

Mặc dù hệ thống pháp lý vẫn do Đảng kiểm soát, có đủ sự linh hoạt và các lỗ hổng cho phép đủ loại hoạt động có thể diễn ra. Thậm chí ngay cả khi luật “khó khăn”, việc thực thi có thể bị trì hoãn hoặc điều chỉnh nhờ sự giúp đỡ của các mối quan hệ và các đặc ân. Kết quả ta có: năng động kinh tế và tham nhũng có hệ thống.

Thuật ngữ “lobby” (vận động hành lang) trong tiếng Anh đã gia nhập tiếng Việt. Chìa khóa của “lobbying” là tìm kiếm bộ phận nào của nhà nước ủng hộ chương trình nghị sự của bạn và vận động qua ngả đó. Bằng cách này, bất kỳ hoạt động chính trị nào cũng tỏ ra hoàn toàn trung thành và không đe dọa hệ thống. Rất nhiều nhóm, cả chính thức lẫn không chính thức, hiện đang vận động hành lang tại nhiều cấp độ của nhà nước để thúc đẩy thay đổi.

Ngành công nghiệp truyền thông Việt Nam mang lại rất nhiều tiền, và tiền tạo ra ảnh hưởng. Có đủ loại hoạt động ngụy tạo và bán hợp pháp tại đầu não khu vực truyền thông – một số công ty đầu ra hầu như hoàn toàn do tư nhân sở hữu, bất chấp nghị định của chính phủ quy định ngược lại; số khác hành xử như thể họ là công ty tư nhân. Chừng nào họ không thách thức Đảng hoặc tọc mạch quá sâu vào các vụ tham nhũng cấp cao, chừng đó các biên tập và phóng viên có thể chung sống tốt đẹp.

Trong tất cả những trường hợp này, tính năng động được phát huy qua hình thức bán luật pháp được làm nhẹ đi trong tiếng Việt là phá rào. Như kinh tế gia người Anh Adam Fforde đã chỉ ra, chính thực hành này đã giúp Việt Nam thoát khỏi sự sụp đổ kinh tế vào cuối thập niên 1980 và tạo cơ sở cho sự phát triển nhanh chóng ngày hôm nay. Phá rào cũng quan trọng không kém trong chính trị và xã hội.

Vào cuối thập niên 1990, Đảng Cộng sản Việt Nam làm mất lòng tin trầm trọng nơi giới trẻ: chỉ có 7000 sinh viên chọn gia nhập Đảng. Để đối phó tình thế này, Đảng xác định lại mục tiêu hấp dẫn lớp trẻ: Đảng từ bỏ yêu cầu hoàn thành mọi kỳ vọng cách mạng; thay vì vậy, Đảng mở ra cho họ con đường thăng tiến cá nhân. Các đảng viên trẻ thường được chào mời rằng “Muốn được thăng chức, cần vào Đảng.” Thay vì phải che giấu các động cơ ích kỷ dưới lớp véc-ni tình cảm cao quý và vị tha về khát khao đóng góp để phát triển đất nước, giờ đây việc một đảng viên mới thông báo với bạn bè việc mình vào Đảng vì lợi ích cá nhân là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được. Thực vậy, người ta thấy xấu hổ khi tuyên bố [vào Đảng để] xây dựng chủ nghĩa xã hội hay bảo vệ cách mạng. Phương thức này tỏ ra có hiệu quả. Đảng tuyên bố rằng 60% trong số 170000 người gia nhập Đảng vào năm 2005 thuộc độ tuổi từ 18 đến 30.

Tuy nhiên, dòng chảy mới gia nhập này không làm thay đổi quan điểm của Đảng về chính mình. Đảng xác định rõ việc cần duy trì “vai trò lãnh đạo” tự phong của mình trong xã hội. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức khôn ngoan. Đảng nghĩ về tương lai và về việc làm thế nào để duy trì vị trí tại đỉnh chóp của xã hội ngay cả khi mọi thứ bên dưới đều đang thay đổi. Vị trí của Đảng đủ mạnh để khoan dung cho rất nhiều thứ – thậm chí kể cả việc xuất bản tờ Cosmopolitan của Việt Nam vào tháng trước – nhưng không chấp nhận bất kỳ thách thức nào đe dọa vai trò lãnh đạo của nó. Lê Công Định và các đồng nghiệp đã phải trả giá đắt để nhận ra điều này. Đầu tư và tài trợ quốc tế không mang lại dân chủ và đa đảng cho Việt Nam; ngược lại, nó giúp cho hệ thống cai trị độc đảng trở nên hiệu quả và hiệu lực hơn. Đó là cách mà Đảng muốn. Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn đối với đa số người dân Việt Nam, và chừng nào xu thế này còn tiếp tục, chừng đó mọi việc vẫn sẽ như bây giờ.

Bill Hayton là tác giả cuốn Việt Nam: Con rồng đang lên, Nhà Xuất bản Đại học Yale xuất bản. Ông là phóng viên của BBC làm việc tại Hà Nội năm 2006-2007.

Hoài Phi dịch
Theo Dân Luận

Nguồn: “Breaking Fences in Vietnam”, Forbe, 13.7.2010

Filed under: Chính Trị-Xã Hội, ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: