CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ TƯƠNG LAI VIỆT NAM

Lời người dịch: Bill Hayton là ký giả thường trú của BBC tại Việt Nam vào năm 2006-7. Trong khoảng thời gian này, ông cũng viết cho các báo The Times, Finantial Times, và Bangkok Post. Mới đây, Yale University Press đã xuất bản cuốn Vietnam Rising Dragon của Bill Hayton, với những nhận xét rất sắc bén của ông về tình hình Việt Nam.

Trong khi đang có cuộc thảo luận về “Trước thềm Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam”, xin mời quý độc giả đọc dưới đây bản dịch bài “Epilogue” (Lời kết) trong cuốn Vietnam Rising Dragon.

Không có điều gì không thể xảy ra kế tiếp tại Việt Nam. Xứ sở này phát triển hay trì trệ, sẽ tùy thuộc vào sự lựa chọn chính yếu của Đảng Cộng sản. Các thành tố cho sự thành công của quốc gia đã sẵn sàng. Vài thứ có thể đo lường được dễ dàng: một dân tộc trẻ trung, số đông có trình độ giáo dục căn bản, và đầu tư ngoại quốc tràn ngập. Những thứ khác kém cụ thể hơn, đặc biệt về tính lạc quan và khả năng tiếp thụ của dân chúng. Nhưng những thành tố này có thể dễ dàng bị hoang phí hay hư hao. Đất nước đang tích trữ những khó khăn – sự vững mạnh của thành phần tinh hoa mới, sự sa sút của nhà nước, việc lạm dụng môi sinh, bất bình đẳng sắc tộc và những điều khác đã trình bày. Tất cả những vấn đề này đều có thể giải quyết được, nhưng càng để lâu, càng trở thành tệ hại. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà lãnh đạo Đảng có ý chí để giải quyết chúng kịp thời.

Tôi không tin rằng Đảng đang trên đường tiến tới tự do dân chủ, ngay cả hướng về “dân chủ điều khiển”. Cả hai thuật ngữ này đều hàm ý về chủ quyền đối với người dân và không phải là lối suy nghĩ của Đảng. Đảng chuẩn bị cho sự tham dự rộng rãi hơn trong việc quản trị đất nước, đặc biệt ở cấp xã, nhưng không chuẩn bị cho người dân cai trị. Tất cả bằng chứng cho thấy Đảng chú tâm nắm giữ quyền làm chính sách. Công dân có quyền báo động về những lạm dụng hay kém hiệu quả, nhưng không được quy trách các nhà lãnh đạo Đảng hay những người được che chở về việc làm hay vị thế vĩnh viễn của họ. Những nguyên nhân chính của các vấn đề như tham nhũng, ô nhiễm hay tài chính bất ổn thì cứ để mặc cho đến khi chúng trở thành khủng hoảng.

Từ khi được độc lập, Đảng đã duy trì sự kiểm soát trên cả nước qua hệ thống theo dõi và vận dụng. Nhưng khi đất nước trở thành giàu có hơn, hệ thống này trở thành khó duy trì hơn. Lương cao sẽ khiến việc duy trì hệ thống bảo đảm công việc cho mọi người không thể kham nổi và những công dân có lợi tức độc lập có nhiều khả năng hơn để coi thường [hệ thống kiểm soát của Đảng]. Thế hệ dân chúng trẻ hơn, hấp thụ hàng ngàn thứ giải trí hấp dẫn của cuộc sống thành thị, không dễ dàng bị vận dụng bởi các chỉ thị của Đảng. Thiếu các nghĩa vụ truyền thống về theo dõi và vận dụng, Đảng bộ địa phương sẽ sa sút và thẩm quyền bị tàn tạ. Đảng sẽ cần cơ chế mới để giúp quản trị xã hội mới. Đã có một đồng minh chủ yếu trong xã hội Việt Nam trọng truyền thống là nghĩa vụ đối với gia đình và cộng đồng nhưng bù lại phải có nhiều tự trị hơn cho họ.

Trong vài thập niên qua, Đảng đã đạt được sự trung thành bằng cách phát triển kinh tế và tạo việc làm. Sản phảm nông nghiệp, công nghệ và kỹ nghệ sản xuất đã bùng phát nhưng đã phải trả giá về môi sinh. Ngư nghiệp bị tàn phá, sông ngòi bị chết vì chất độc phế thải và thành phố bị nghẹt thở vì ô nhiễm. Bây giờ người dân phải trả giá. Cách phát triển hiện tại nói thẳng ra là không thể kham nổi. Nếu những vùng quanh Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trở thành những đô thị kỹ nghệ lớn thì chúng cần có những biện pháp bảo vệ môi sinh chặt chẽ hơn, hay rất giản dị, chúng sẽ trở thành những nơi không thể sinh sống được.

Phát triển đem lại lợi lộc cho các thành phố nhiều hơn cho các vùng nông thôn, và cho người Kinh nhiều hơn các sắc tộc. Vì các vùng xa bị bỏ lại phía sau, và bất bình đẳng sắc tộc gia tăng, các nhóm thiểu số cảm thấy bị tách biệt nhiều hơn. Những khiếu kiện về kinh tế có thể trở thành khiếu kiện về sắc tộc. Tình trạng tại vùng Trung Nguyên đã đáng ngại và có thể sẽ tệ hơn. Tình trạng của các nhóm thiểu số khác, như người Khmer ở Đồng bằng Cửu Long, hay như các nhóm sống ở miền tây Bắc Cao nguyên và miền ven biển nam-trung, trong khi chưa đến nỗi tệ, vẫn có thể dễ dàng trở thành vấn đề chính trị.

Cho đến nay, Đảng đã quản trị đất nước trải qua thời kỳ chuyển tiếp tương đối tốt. Việt Nam đã đi từ chủ nghĩa Stalin sang kinh tế thị trường mà không trải qua tình trạng sát huynh đệ như Yugoslavia hay “sốc trị” (shock therapy) như tại Đông Âu. Nhưng mỗi ngày xã hội trở thành phiền toái thêm và những vấn đề của nó rắc rối hơn. Đảng không thể giải quyết chúng một mình. Gia tăng đương đầu với những vấn đề, như thêm bất bình đẳng và tham nhũng địa phương, thì không phải là kỹ thuật mà là chính trị, và giải quyết chúng cần phải đối phó với thành phần tinh hoa mới. Trong vài năm gần đây, Đảng đã có thể cầm cương giới đặc lợi khi họ đe dọa ổn định an ninh quốc gia nhưng khả năng làm như vậy đang suy yếu. Thành viên của Đảng nhiều dân thành thị hơn, nhiều tiểu tư sản hơn. Các đại gia và xếp lớn địa phương tạo ra những hệ thống bao che biến họ thành những người không thể đụng tới. Giới đặc lợi đang nắm quyền.

Qua trên 70 năm biến đổi, Đảng Cộng sản đã kiến tạo được một đặc tính mạnh mẽ về lãnh đạo quốc gia và trách nhiệm tập thể. Nó đã duy trì được kỷ luật trong hàng ngũ chọn lọc và giữ được sự khác biệt trong phạm vi cân xứng có thể cầm chừng được. Nền dân chủ nội bộ của nó đã cho phép những mối quan tâm khác biệt trong xã hội được thảo luận và tìm ra vài đồng thuận. Câu hỏi lớn nhất đối diện đất nước là liệu Đảng có thể tiếp tục đóng vai trò đó khi xã hội trở thành giàu có hơn và phân chia hơn. Nếu Đảng trở thành công cụ của thành phần kinh doanh chọn lọc rồi các nhóm khác, đặc biệt là công nhân, có thể chọn cách hành động bên ngoài hệ thống Đảng. Hơn nữa, nhiều thế lực mới xuất hiện trong xã hội, bên ngoài Đảng. Nếu Đảng không tìm cách để bao gồm họ trong việc hoạch định đường lối, họ có thể trở thành bất kham.

Không có vấn đề nào vừa kể sẽ được giải quyết trừ khi có áp lực phải làm như vậy, nhưng hệ thống ảnh hưởng dễ dãi lại cản trở sự phân tích nghiêm túc về chúng. Phải chăng số phận của Việt Nam là trở thành một nước khác tại Đông Nam Á bị cai trị bởi một băng đảng độc tài (oligarchy)? Rõ rệt là có thể như vậy nhưng không bắt buộc phải như vậy. Từ lâu Đảng đã hạn chế tự do ngôn luận để khỏi phải đương đầu về quyền cai trị của mình. Nhưng, lâu dần quyền phát biểu đã bị giới hạn vì lợi ích cá nhân của  người ở địa vị cao. Lợi ích cá nhân của họ đã được ưu tiên hơn lợi ích quốc gia. Những ai vẫn còn coi lợi ích quốc gia là ưu tiên cần sự giúp đỡ. Họ cần giới truyền thông có thể tìm ra những sự thật khó chịu, họ cần những con người của công chúng để phổ biến những khiếu kiện và họ cần có thể vận dụng áp lực trên giới lãnh đạo. Để Việt Nam có thể gia nhập hàng ngũ các con hổ kinh tế, nó cần phải được tháo xiềng xích về tự do phát biểu. Nó có thể gây rắc rối trong ngắn hạn nhưng cuối cùng nó sẽ tránh được nhiều gấp bội.

Nguồn: Bill Hayton, Vietnam Rising Dragon, “Epilogue”, Yale University Press, 2010. Trang: 226-8.

Bản tiếng Việt © 2010 Đinh Từ Thức
talawas

Việt Nam đối mặt với cuộc khủng hoảng và tương lai của
chế độ

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11 sẽ tổ chức vào tháng 1 năm 2011. Nó sẽ thay mới một số các nhà lãnh đạo, thiết lập một hướng giải quyết cho nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng và, cuối cùng, cải thiện chức năng của hệ thống chính trị.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, đang hoàn tất nhiệm kỳ thứ hai của mình và không thể gia hạn. Các ứng viên của chức Tổng Bí Thư phải hội đủ ba điều kiện. Phải ít hơn 65 tuổi để không quá 70 tuổi sau nhiệm kỳ năm năm của họ, phải là thành viên Uỷ ban Trung ương Đảng. Nhưng trên thực tế, Tổng Bí thư là từ Bộ Chính trị gồm 15 thành viên, là trụ sở các nhà lãnh đạo chính của nhà nước. Cuối cùng, theo một quy tắc bất thành văn, vị trí này phải đến từ phía Bắc.

Chủ tịch nước hiện tại (Nguyễn Minh Triết), 68 tuổi, cũng sẽ bỏ trống ghế của ông giống như ông Chủ tịch Quốc hội (Nguyễn Phú Trọng), 66 tuổi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã 61 tuổi, nhưng ông ta là người miền Nam. Có vẻ như ông ta sẽ được tái bổ nhiệm vị trí (thủ tướng) của mình, để lại sẳn chức Tổng Bí thư cho nhân vật phía Bắc. Rồi sao nữa? Những dự đoán này cũng đang được truyền tụng tại Hà Nội.

Một cái tên được truyền đi nhiều hơn những người khác: Tô Huy Rứa. Ông ta được đề bạt vào Bộ Chính trị sau Đại hội năm 2006, rồi bởi Uỷ ban Trung ương Đảng vào tháng 1 năm 2009. Đây có thể là một dấu hiệu của sự bổ sung đã được chuẩn bị. Quan trọng hơn, ông ta nắm giữ một chức vụ chiến lược trong Bộ chính trị. Ông ta giử ghế Trưởng ban tuyên giáo trung ương đảng. Ông ta có quyền hành cao cấp về học thuyết của đảng và đào tạo cán bộ. Người ta nói rằng ông ta rất cương quyết. Ông ta quan tâm việc tăng cường sức mạnh của đảng, khuôn khổ chính trị của đất nước, mà không làm cho nó cứng ngắt, giáo điều và khép kín, bảo thủ. Các vị trí của Chủ tịch nước và Quốc hội cũng sẽ được bổ khuyết. Các cuộc đàm phán, mặc cả đã được mở ngỏ!

Các vấn đề cần giải quyết là rất cấp bách. Cuộc khủng hoảng đã làm rung chuyển lòng tin vào một sự tăng trưởng mạnh ổn định, kể từ năm 1991. Nửa đầu năm 2008 đã cho thấy lạm phát tăng tốc lên 28% theo một xu hướng hàng năm. Người Việt Nam, những người chưa bao giờ có sự tự tin nhiều đối với những tiền Đồng của mình, họ rời bỏ nó mà ngã về phía tiện lợi của vàng và đồng đô la. Thị trường chợ đen các loại ngoại tệ lại nổi lên. Chính quyền đã gây ra cảm giác hoảng sợ. Họ đã cố gắng để làm giảm lượng cung tiền, ngăn cấm nhập khẩu vàng. Các cuộc đình công xảy ra khắp nơi đối mặt với sức mua bị giảm sút.

May mắn thay, vào cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế từ phương Tây đã ổn định giá nguyên liệu và sản phẩm nhập khẩu. Nhưng xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ và châu Âu đã giảm mạnh.

Một kế hoạch phục hồi đã được triển khai. Vào cuối năm 2009, mức tăng trưởng sản phẩm nội địa (GDP) đứng ở mức 5,1%, điều đó không phải là quá tệ. Thế nhưng Việt Nam tích lũy nhiều thâm hụt, thâm hụt ngân sách quốc gia đến 9% của GDP, thâm hụt thương mại và thâm hụt về cán cân thanh toán. Dự trữ ngoại hối bao gồm thiếu hụt ba tháng nhập khẩu. Giới hạn của Việt Nam là phụ thuộc vào các nguồn lực nước ngoài. Giá trị xuất khẩu chiếm gần 70% GDP. Đất nước này phải dựa vào dòng chảy đầu tư nước ngoài để cân bằng cán cân thanh toán của nó.

Đó là không kể đến các khoản nợ đáo hạn với Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào cuối năm 2010. Nếu như tình trạng này là yếu kém, nhưng mà nó không đến nổi là nguy kịch. Công nợ chỉ chiếm 48% GDP. Vào khi châu Á trở thành động lực phát triển toàn cầu, thì Việt Nam cũng được hưởng lợi. Nhưng Việt Nam, quá dễ bị biến động trong nền kinh tế toàn cầu, phải thật cẩn trọng đối với việc mất kiểm soát cho mô hình phát triển của nó. Đảng cộng sản phải rút tĩa bài học từ thời kỳ này, phải cải tiến quy trình ra quyết định của mình, tránh sự mập mờ, không rỏ ràng vào những năm 2008-2009. Đây sẽ là chủ đề của Đại hội.

Tại Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào vừa là Tổng Bí thư đảng, người đứng đầu nhà nước và Chủ tịch Ủy ban quân sự trung ương. Ông ta có thẩm quyền trong đảng, chính quyền, quân đội, và có thể hòa giải những tranh chấp. Không giống như vậy tại Việt Nam. Chức Tổng bí thư đảng này chỉ có tác động chừng mực. Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lấy cảm hứng từ Trung Quốc, đã từng đề xuất rằng Tổng Bí thư cũng nên là chủ tịch nước, đề nghị đó đã bị bác bỏ. Một số người đã tiếc nuối cho đề xuất này. Có ít khả năng đại hội sắp tới sẽ xem xét lại việc từ chối này. Người ta không thể chắc rằng nhân vật Tổng bí thư sắp tới có áp đặt các quyết định và phân xử nhanh chóng.

Cuộc chiến chống tham nhũng là một chủ đề của những bài phát biểu từ các nhà lãnh đạo chính trị tại Việt Nam. Các thính giả thì đã hoài nghi. Việt Nam đứng thứ 120 trong số 180 quốc gia trong bảng xếp hạng các nước theo mức độ tham nhũng, được thành lập theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Minh bạch Quốc tế. Và báo cáo năm 2010 của Ngân hàng Thế giới về phát triển tại Việt Nam trình bày một nghiên cứu về tham nhũng: 65% người Việt Nam nhận định tệ tham nhũng là một vấn nạn lớn.

Nó làm xói mòn lòng tin nơi công chúng đối với các nhà lãnh đạo của họ. Tuy nhiên, một luật chống tham nhũng toàn diện đã được ban hành vào năm 2005. Trong một hệ thống mà nó không công nhận, theo định nghĩa, chính trị đối lập và phản biện, nhằm lên án các quyền lực tham nhũng, người ta đã không thể dựa vào các thẩm phán để thực thi luật pháp. Tuy nhiên ở Việt Nam, những thẩm phán đó được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ năm năm và có thể không được gia hạn. Đây không phải là cách tốt nhất để đảm bảo sự độc lập của công lý. Không nghi ngờ gì nữa, một áp lực của nền tư pháp và nền tảng đảng sẽ ghi những vấn đề này vào chương trình nghị sự của Đại hội.

Các mối quan hệ khó khăn với Trung Quốc là một chủ đề mang tính thời sự tại Việt Nam. Các tranh chấp thì rất nhiều: sự chiếm đóng của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, tình trạng suy thoái ở Đồng bằng sông Cửu Long dưới tác động của các đập nước mà Trung Quốc gia tăng ở thượng nguồn, những dự án đầu tư có nguồn gốc từ Trung Quốc bất chấp sự hủy hoại, xâm phạm môi trường tại các mỏ Bauxite, các vùng cao nguyên hoặc trong các khu rừng đầu nguồn của các tỉnh vùng cao phía Bắc vì quyền lợi của các khu công nghiệp đồn điền , cuộc xâm chiếm của các sản phẩm Trung Quốc tại thị trường Việt Nam … Nhưng Bộ Chính trị hiện nay hy vọng rằng những tranh chấp đó sẽ được giải quyết trong quan hệ ngoại giao bí mật. Có thể những vấn nạn này sẽ bị ngăn cản nếu chúng được đem ra tranh luận tại Quốc hội? Không có gì là ít chắc chắn cả.

Không thật sự có việc phân chia trên các mục tiêu của chính sách kinh tế và xã hội: phục hồi tăng trưởng trở lại, duy trì sự kiểm soát công khai những phát triển, giảm sự bất bình đẳng, phát triển thị trường nội địa và phúc lợi xã hội. Có một số bóng đen biểu hiện trong thứ tự ưu tiên trong số những mục tiêu này. Chúng không phải là những thứ thực sự làm chia rẽ đảng (cộng sản). Cái vấn đề lớn là “quá trình dân chủ hóa” của chế độ chính trị theo nghĩa tiếng Việt của từ này. Loại trừ vấn đề của việc từ bỏ độc đảng. Nhưng liệu người ta có chịu mở rộng không gian của tự do, đảm bảo hiệu quả, giảm bớt kiểm duyệt, bảo đảm sự độc lập nhất định của công lý trong khuôn khổ hệ thống?

Trong đảng, có nổi sợ hãi sợ những hậu quả của tự do hóa như vậy, nhưng những người khác thì tin rằng đó là cách duy nhất để đảm bảo tính bền vững của chế độ này. Họ nghĩ rằng: Điều này có những lợi điểm. Nó sẽ đảm bảo ổn định chính trị và thống nhất trong cả nước, nó đề ra một chính sách lâu dài, thuận lợi cho những chính sách dài hạn nhằm tránh khỏi sự thay đổi bất thường của các biến chuyển. Nhưng người ta cần phải thích ứng với đòi hỏi của thời gian. Đặc biệt là tại vùng Đông Nam Á đầy rối ren, kết cục đặt cược của người Việt Nam sẽ ảnh hưởng tác động đến toàn vùng.

Philippe Delalande, kinh tế gia, thành viên Tương lai châu Á Thế kỷ 21

Philippe Delalande, Le Monde

Nguồn:  ViAn –  X-cafe

Filed under: Chính Trị-Xã Hội, ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: