CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

7 CÂU HỎI VỀ EVN VÀ GIÁ ĐIỆN

Bài này mình viết tháng 11/2008, bị ném đá tơi bời. Nay tranh thủ lúc nhà có điện (theo lịch cúp điện ở Hà Nội thì hôm nay quận bạn bị cúp chứ không phải quận ta, hehe), post lạii bài để bà con đọc bớt nóng.

+++++++++++++

Ngành điện bị lên án dữ dội sau những nguyện vọng như đòi tăng giá điện, xin tiền thưởng, cùng cách hành xử đầy tính độc quyền. Một cái nhìn công bằng hơn từ các chuyên gia có thể “giải oan” phần nào cho ngành điện (tuy có những biểu hiện cho thấy họ chưa biết tận dụng cơ hội này để “phục thiện”). Trước hết, có lẽ công luận sẽ không bức xúc với đòi hỏi tăng giá điện đến thế nếu biết rằng giá điện tăng là xu hướng tất yếu.

Phương án tăng giá điện đã được trình Chính phủ xem xét. Tuần cuối tháng 10 năm 2008, một nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR – nay là Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam, VEPR), Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, có công bố một bản đánh giá ảnh hưởng của việc tăng giá điện lên chi tiêu hộ gia đình và toàn bộ nền kinh tế. Bản đánh giá được báo chí đăng tải và lập tức gây sự chú ý từ phía dư luận: chống tăng giá điện để cắt thêm vào túi tiền của người tiêu dùng, chống cách hành xử quá quắt (cắt điện tùy tiện, không chịu đầu tư), nhất là chống nhà độc quyền – Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Nhưng giữa làn sóng phản đối, vẫn có những lập luận ủng hộ việc tăng giá điện. Ngay cả bản đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc CEPR cũng chỉ dừng lại ở việc khảo sát và đưa ra những đánh giá, thay vì kết luận “tăng hay không tăng giá điện”. Nếu tinh ý sẽ nhận thấy bản thân Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, cũng tránh có những kết luận mang tính định hướng dư luận. Trong phần kết của bản đánh giá, ông Thành và đồng sự viết: “Rút kinh nghiệm từ những bài học như tăng giá xăng, các cơ quan chính sách có thể đẩy mạnh tuyên truyền trước khi tăng giá, để người dân ước tính được mức ảnh hưởng dây chuyền của việc tăng giá“. Đây là một cách hàm ý rằng việc tăng giá điện là không tránh khỏi và có thể chấp nhận được.

Trong một lần trả lời chất vấn Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết, với lợi nhuận 5%, là mức thấp với EVN. Với giá thành và giá bán hiện nay trong khi ngân sách không bù lỗ mà bù chéo, bán cao bù cho bán thấp, ngành điện đang gặp nhiều khó khăn. Và khả năng tăng giá điện là khó tránh khỏi.

Rắc rối và tranh cãi chỉ có thể giải quyết nếu chúng ta trả lời được “7 câu hỏi căn bản” sau đây.

1. EVN có độc quyền không?

Thật ra, nếu so với một số ngành khác thì giá điện ở Việt Nam hiện giờ là khá rẻ và đa số người tiêu dùng cũng thừa nhận điều đó. Ngoài ra, điểm quan trọng là giá điện do Nhà nước điều tiết (trên cơ sở thỏa thuận với EVN), chứ EVN không tự đặt giá.

Một chuyên gia kinh tế năng lượng thuộc Bộ Tài chính khẳng định: EVN thực sự không độc quyền. Theo ông, báo chí cũng như công chúng lên án EVN độc quyền là sai về khái niệm. “Ngành điện ở Việt Nam hiện nay đang bị EVN độc quyền, nhưng bản thân EVN không có hành vi độc quyền vì họ đâu có tự động đẩy giá thị trường lên để hưởng lợi nhuận độc quyền” – chuyên gia này nhấn mạnh.

Hiện nay, giá điện ở Việt Nam đang thấp hơn khu vực, và điều này không kích thích các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài tham gia sản xuất điện. Khi trả lời chất vấn trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết, có nhiều nhà đầu tư nước ngoài xin được đầu tư vào các dự án điện phải dừng lại vì họ đòi giá bán cao, Chính phủ không thể mua được.

Một mình EVN nắm cả sản xuất (74% thị trường) lẫn truyền tải (100%) và phân phối điện (95%) (nguồn: EVN, 2008). Họ không ngăn cản việc mở rộng thị trường cho các nhà sản xuất và cung cấp khác, nếu không họ đã chẳng lấy lý do “khuyến khích đầu tư” để tăng giá điện.


2. EVN có lãi nhiều không?

Câu trả lời chắc chắn là EVN luôn luôn có lãi.

Giá điện ở Việt Nam được tính dựa trên chi phí bình quân dài hạn (long-term average cost). Chi phí này hình thành không từ thị trường tự do cạnh tranh mà từ kế toán nội bộ ngành, có sự kiểm soát và điều tiết của Nhà nước. Nó bao gồm bốn yếu tố: chi phí vốn, chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí thường xuyên (lương cán bộ công nhân viên ngành điện), và lợi nhuận dự kiến của nhà sản xuất – ở đây là EVN.

Trong giá đã có tính đến lợi nhuận dự kiến của EVN. “Vì vậy, kiểu gì EVN cũng có lãi” – cũng chuyên gia kinh tế năng lượng nói trên khẳng định. Tuy nhiên, EVN lãi nhiều không thì câu trả lời chỉ họ và cơ quan quản lý Nhà nước mới nắm được.

3. Lập luận nào ủng hộ tăng giá điện?

Các chuyên gia cho biết, phần lớn nhất trong cấu thành giá điện là chi phí vốn, tức chi phí đầu tư, khai thác các nguồn sản xuất: thủy điện, khí, than, dầu, sắp tới có thể là điện nguyên tử. Phần lớn thứ nhì là chi phí nguyên nhiên vật liệu: nước, khí đốt, than, dầu mỏ. Còn chi phí thường xuyên, ví dụ lương nhân công, chỉ chiếm một thành phần nhỏ.

Giá điện bán lẻ bình quân ở Việt Nam khoảng 3 cent/kWh, so với Trung Quốc 8-9 cent/kWh, Campuchia 13 cent/kWh. Giá điện của chúng ta ở mức thấp nhất khu vực, nhưng điều đó không phải chỉ do lương nhân công Việt Nam thấp hơn lương trong khu vực. Thay vì thế, giá thấp chủ yếu là do nguồn sản xuất điện (nước, khí đốt, than, dầu) của chúng ta ban đầu còn dồi dào. Theo thời gian, các nguồn dễ khai thác sẽ cạn kiệt dần, chi phí vốn và chi phí nguyên nhiên vật liệu sẽ phải tăng lên. Và như thế, giá điện tăng là xu hướng tất yếu (cũng như giá dầu mỏ). Điều đó đúng cho toàn thế giới. Chẳng hạn, tại Mỹ (quốc gia có thị trường điện tương đối tự do cạnh tranh), trong 10 năm từ 1996 đến 2006, mức giá điện bán lẻ trung bình đã tăng từ 6,8 cent/kWh lên 10 cent/kWh.

Theo Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Đức Thành, “khuynh hướng chung về dài hạn là giá năng lượng sẽ tăng, nếu không có cải tiến đột xuất trong lĩnh vực công nghệ sản xuất năng lượng“. Tuy nhiên, ông Thành cho biết: “Trong đề án tăng giá điện, vấn đề năng suất không hề được EVN đề cập đến. Họ không muốn thừa nhận, bởi năng suất phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lý“.

Cũng có chuyên gia cho rằng, trong ngành điện, tăng năng suất đến mấy cũng không bù đắp nổi sự khan hiếm về nguồn. Vì thế, trước sau, giá điện cũng sẽ phải lên để thu hút đầu tư khai thác. Nhưng dù sao thì trong một thị trường cạnh tranh, giá sẽ tăng chậm hơn và động lực cải thiện năng suất cũng như tìm ra các phương thức khai thác nguồn năng lượng mới sẽ nhiều hơn.

4. Tại sao EVN không đầu tư?

EVN kêu thiếu vốn, nhưng đó là vốn để đầu tư vào chính ngành điện. Còn trên thực tế, tập đoàn vẫn có lãi để đổ vào các lĩnh vực “phi điện” như ngân hàng, bất động sản, resort, viễn thông… Lý do đơn giản bởi EVN là một doanh nghiệp, và họ có quyền lựa chọn đầu tư vào những lĩnh vực ra lợi nhuận nhanh hơn, “ngon” hơn.

Trong bối cảnh lạm phát, lạm chi ngân sách, Nhà nước cũng không thể dồn vốn ngân sách hoặc tài trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hay Ngân hàng Thế giới (WB)… cho việc đầu tư vào ngành điện. Đã đến lúc cần có sự đầu tư từ các nhà sản xuất và cung cấp khác (cả trong và ngoài nước), như các công ty trong lĩnh vực than, dầu khí, thủy nông v.v. Nhưng các đơn vị khác cũng là doanh nghiệp nên họ cũng đòi hỏi thị trường phải hấp dẫn thì mới đầu tư.

5. Thiếu điện, ai chịu trách nhiệm?

Kẻ chịu trách nhiệm ở đây là là cơ chế và người tuân theo nó là EVN – nhà sản xuất, truyền tải và phân phối gần như duy nhất trên thị trường Việt Nam.

Bài toán đặt ra cho ngành điện giờ đây là phải làm sao để thu hút đầu tư khai thác nguồn (muốn vậy cần một mức giá hấp dẫn), khuyến khích tăng năng suất trong ngành.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A gợi ý việc ưu tiên tự do hóa thị trường sản xuất điện. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu của CEPR cho rằng “nên tạo một môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực truyền tải và phân phối điện, trên cơ sở tách một số công ty từ EVN, để chúng trở nên độc lập với nhau“.

Song song với đó là việc chuyển từ cơ chế tính giá dựa trên chi phí bình quân dài hạn – hoạch định nội bộ, do Nhà nước điều tiết – như hiện nay sang một hệ thống giá cả có yếu tố cạnh tranh giữa nhiều nhà sản xuất và cung cấp độc lập. Trước những năm 80 của thế kỷ trước, thị trường điện của tất cả các nước đều do Nhà nước điều tiết toàn bộ (như Việt Nam hiện tại). Quá trình giải điều tiết, tự do hóa đang diễn ra ở nhiều nơi.

6. Tăng giá điện có gây lạm phát không?

Nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành đưa ra ba kịch bản tăng giá điện:

1. Giá điện sinh hoạt tăng 20%, giá điện cho sản xuất không tăng: GDP giảm 0,04% và CPI tăng 0,13%;
2. Giá điện sinh hoạt tăng 20%, điện cho sản xuất tăng 10%: GDP giảm 0,15% và CPI tăng 0,73%;
3. Giá điện cả hai khu vực đều tăng 20%: GDP giảm 0,16% và CPI tăng 1,25%.

Như thế là trong cả ba trường hợp, tăng giá điện đều gây lạm phát và làm giảm GDP (trong ngắn hạn: 1 năm).

Dù vậy, trong dài hạn, việc tăng giá điện (đi đôi với tự do hóa thị trường trên cả ba khâu sản xuất, truyền tải, phân phối) sẽ kích thích đầu tư tăng năng suất, cạnh tranh, đi tới kìm lại tốc độ tăng giá. Thêm vào đó, việc tăng giá điện sẽ không gây sốc cho thị trường như đợt tăng giá xăng dầu hồi tháng 7 năm 2008, nếu có lộ trình rõ ràng để doanh nghiệp và người dân chuẩn bị tinh thần, cùng “thắt lưng buộc bụng”, tự điều tiết.

Ở nhiều nước trên thế giới, dù thị trường do Nhà nước điều tiết hay là tự do hoàn toàn, thì giá năng lượng cũng không thể tăng giảm tùy tiện, mà luôn phải theo một lộ trình đã vạch rõ và được công bố từ trước. Ví dụ, nếu giá điện từ ngày 1/7 năm nay tăng 3%, thì người dân đã phải được thông báo từ tháng 11 – 12 năm ngoái. Không thể viện lý do “năm nay thiếu nước nên thiếu điện” để tăng giá, đồng thời hô hào, bắt ép người tiêu dùng… tiết kiệm!

7. EVN có thể làm gì?

Để không còn những tranh cãi và phản đối hiện nay, EVN hoàn toàn có thể công khai cơ chế tính giá, lợi nhuận của họ, cùng những lý do giải thích sự cần thiết phải tăng giá điện (khan hiếm nguồn nguyên nhiên vật liệu, thiếu vốn đầu tư v.v.). Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng nhấn mạnh việc EVN phải đưa ra được một lộ trình vừa tăng giá vừa cải cách ngành điện hợp lý nhất.

Một chuyên gia trong ngành nhận xét: “EVN không minh bạch đã đành, hoạt động tuyên truyền của bản thân họ cũng kém. Người dân đến nay vẫn không hề biết là nguồn tài nguyên để sản xuất điện của chúng ta hiện giờ đang khan hiếm đến mức báo động, nhất là các nguồn giá rẻ như than, khí đốt“.

Bản đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc CEPR cũng viết: “Nếu ngành điện có thể công bố được mức tăng năng suất của ngành, thì sức thuyết phục của việc tăng giá sẽ cao hơn rất nhiều. (Mức tăng giá = mức trượt giá – mức tăng năng suất)“.

Trong tình hình hiện nay, sự lảng tránh báo chí và công chúng của EVN chỉ càng làm người ta thêm nghi ngờ và phẫn nộ. Trước đó, EVN còn xin tiền thưởng từ ngân sách, rồi không chịu đầu tư, rồi đổ trách nhiệm “tiết kiệm” lên đầu người tiêu dùng…

Có người nói vui rằng, thời bao cấp, điện là ngành được hoan hô nhiều nhất, vì cứ mỗi lần không gian bừng sáng lên sau lúc mất điện là cả làng cả tổng lại reo: “Có điện rồi!”. Còn bây giờ, thời hội nhập, hình như điện đang trở thành (một trong những) ngành bị chê trách nhiều nhất. Trong khi trên thực tế, EVN cũng có “nỗi oan không chịu tỏ cùng ai”.

Đoan Trang
Nguồn: Blog Đoan Trang

Tình trạng mất điện ở Việt Nam và nhu cầu cải cách

Tình trạng mất điện liên tục trong mùa hè này đã gây bức xúc cho các doanh nghiệp, nông dân và các hộ gia đình và người dân đang gây áp lực để có một cuộc cải cách mạnh mẽ, đó là chia tách tập đoàn điện lực Việt Nam.

Khi bị cắt điện liên tục, người dân tỉnh Thanh Hóa đã buộc các nhân viên của Điện lực Việt Nam (EVN), nhà cung cấp điện độc quyền phải ngồi ngoài trời dưới nhiệt độ 40oC, và Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ của Việt Nam cũng đang yêu cầu EVN bồi thường cho các công ty.

Tuy nhiên điều đáng nói nhất là sự bất bình đã gây ra được áp lực về mặt chính trị đó là việc những người chủ trương đổi mới muốn chia tách Tập đoàn điện lực của Việt Nam.

Việc thiếu điện sẽ liên tục kéo dài, trừ khi EVN được cải cách“, ông Hoàng Văn Dũng, Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát biểu.

Với nhu cầu về điện ngày càng gia tăng với 15 phần trăm mỗi năm, các nhà phân tích đổ lỗi cho việc Việt Nam không thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng nhà máy điện mới. Tuy nhiên các nhà đầu tư nước ngoài lại bị chính sự độc quyền của EVN gây khó dễ trong việc phân phối điện, và do cả mức áp giá điện thấp do Chính phủ quy định.

» Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng

Kế hoạch chia tách chi nhánh và phân phối của EVN để tạo ra thị trường điện thu hút các nhà đầu tư được đề xuất lần đầu tiên trong năm 2007, và Bộ Công nghiệp và Thương mại năm ngoái đã đệ trình bản kế hoạch mới nhất.

Cho đến nay thì điện lực Việt Nam đã chứng tỏ có đủ sức mạnh để trì hoãn những nỗ lực cải cách được đề xuất. Nhưng hiện nay, một số quan chức cho biết họ không thể chờ đợi lâu hơn, và các doanh nghiệp bị cắt điện ngày càng có phản ứng mạnh mẽ hơn.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân đã yêu cầu có cuộc họp đặc biệt của cơ quan lập pháp để thảo luận về cải cách điện, bao gồm cả việc chia tách Tập đoàn EVN.

Chính phủ đã nâng mức phạt EVN khi để xảy ra cắt điện không báo trước lên gấp mười lần, mức phạt tối đa cho các hành vi sai trái khác lên tới 40 triệu đồng ($2100). Ông Kiêm cho rằng mức phạt này là quá thấp nên khó có tác dụng.

Để giải quyết được gốc rễ của vấn đề, chúng ta phải chấm dứt tình trạng độc quyền của EVN“, ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam và giờ là người đứng đầu Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, nói với FT.

Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, một nhà kinh tế và trước đây là người đứng đầu viện IDS ở Việt Nam, cho biết cần phải có ít nhất ba công ty cạnh tranh trong từng phân ngành điện: sản xuất, truyền tải và phân phối.

Chính phủ không nên kiểm soát các lĩnh vực này mà thay vì đó Chính phủ cần hành động như một trọng tài“, Tiến Sĩ Quang A cho biết.

Trước đây đã có các yêu cầu đề xuất như vậy nhưng một số nhà phân tích nói rằng tình trạng thiếu điện khó có khả năng dẫn đến cải cách lớn.

Trong khi sự độc quyền của EVN cản trở các nhà đầu tư ngoại thì Việt Nam lại cố gắng để tiếp cận các nguồn vốn quốc tế nhằm xây dựng các nhà máy. Công ty điện lực Mỹ AES đã ký một thỏa thuận đầu tư 400 triệu đô vào nhà máy nhiệt điện 1200 mW vào hồi tháng Tư. Nhưng EVN lại là chủ đầu tư duy nhất đối với nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam được ký kết với Atomstroyexport của Nga để xây dựng vào mùa xuân này.

Trong khi ngày càng có nhiều sức ép muốn chia tách EVN thì kế hoạch cải cách của Chính phủ vẫn không rõ ràng.

Trong tháng Tư, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đề xuất thành lập một công ty mua điện quốc gia độc lập để mua điện từ các nhà máy và bán cho người sản xuất. Ông Trần Việt Ngãi, Chủ tịch của Hiệp hội, nói rằng EVN cũng có kế hoạch riêng của mình. Nhưng một quan chức của Hiệp hội năng lượng lại cho biết không có kế hoạch chính thức nào.

Chỉ có một kế hoạch cải tổ EVN, và chúng tôi là Bộ Thương mại và Công nghiệp đã gửi cho Chính phủ“, ông Phạm Mạnh Thắng, Giám đốc Ủy ban Điều tiết điện cho hay “Tôi không biết liệu nó có được chấp thuận hay không.

Cong Dieu lược dịch từ Financial Times

Nguồn: Dân Luận

Thiếu điện kéo dài: Phải nói thật với người dân

TT – Trả lời Tuổi Trẻ, TS Nguyễn Mạnh Hiến, nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng, khẳng định rằng nguyên nhân chính của việc thiếu điện không phải như những gì các quan chức đã trả lời.

TS Nguyễn Mạnh Hiến – Ảnh: L.K.

* Là người hiểu sâu về lĩnh vực này, theo ông thì do đâu?

– Tôi nghe các thành viên Chính phủ trả lời trước Quốc hội, rồi nhiều vị cũng hứa trên báo chí. Nhưng dân chưa thỏa mãn và chính tôi cũng không thỏa mãn. Năm nào cũng đổ cho phụ tải tăng nhanh, rồi mùa khô nhà máy thủy điện thiếu nước… Đây là những nguyên nhân đã biết từ lâu rồi, năm nào chả thế.

Khi tôi còn tham gia xây dựng các tổng sơ đồ điện hàng chục năm trước thì tất cả đã thấy vấn đề đó rồi, lường trước rồi. Vì vậy trong các tổng sơ đồ điện đều đề cập rất rõ lộ trình xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí.

Phụ tải tăng nhanh cũng không phải là điều bất ngờ, vì chúng ta đã dự báo đến năm 2010 cần khoảng 100 tỉ kWh, thực tế cho thấy đúng như vậy. Vậy tại sao từ năm 2005 đến nay liên tục thiếu điện trong mùa khô?

Câu trả lời là các nhà máy nhiệt điện chạy than đã không vào đúng tiến độ. Hai nhà máy nhiệt điện ở Hải Phòng và Quảng Ninh đều có công suất 600MW lẽ ra phải vào từ năm 2008, nhưng đến bây giờ vẫn chưa xong. Hai nhà máy này bắt đầu triển khai từ năm 2002, đến năm 2004 thì khởi công xây dựng, đến nay là gần bảy năm.

Không bao giờ một nhà máy nhiệt điện xây dựng đến bảy năm cả, người ta chỉ xây dựng từ 32-36 tháng thôi. Nếu hai nhà máy này vào đúng tiến độ, chúng ta có mỗi ngày gần 30 triệu kWh thì không thể thiếu điện.

Tôi cho rằng vấn đề mấu chốt mà nhiều người không dám nói ra là tại sao hai nhà máy nhiệt điện này vẫn chưa đi vào hoạt động.

* Phải chăng do chạy nhà máy nhiệt điện thì giá thành cao nên chủ đầu tư không muốn làm đúng tiến độ, không muốn xây dựng khẩn trương để đưa vào khai thác?

– Tôi cho rằng không phải như vậy, có lẽ ở năng lực nhà thầu hai công trình này hoặc có khó khăn nào đó. Cần làm rõ vì sao hai nhà máy này lại làm lâu như vậy. Hai nhà máy này có công suất lớn, gần bằng tổng công suất của tất cả nhà máy nhiệt điện ở miền Bắc. Theo tổng sơ đồ điện, lẽ ra hai nhà máy này phải hoạt động trước cả thủy điện Sơn La thì mới đủ điện.

* Trong khi thiếu điện thì lãnh đạo Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam vẫn đưa ra rất nhiều lời hứa và không thực hiện được…

– Phải sòng phẳng và nói thật với dân. Từ năm 2005 đến nay liên tục thiếu điện, không phải vì chúng ta không có tiền đầu tư, không phải vì chúng ta không nhìn thấy trước vấn đề. Chúng ta đã nhìn thấy vấn đề và triển khai nhiều dự án điện, vốn liếng đã được phân bổ đầy đủ. Nhưng tại sao hai dự án như tôi đã nêu lại không vào đúng tiến độ?

Câu hỏi này chủ đầu tư phải trả lời và phải chịu trách nhiệm.

* Có nghĩa thiếu điện không phải lỗi quy hoạch?

– Hàng chục năm trước chúng tôi dự báo năm 2010 cần 96 tỉ kWh, con số này là không sai.

* Thưa ông, vậy tại sao các tổng sơ đồ điện lại thay đổi mau chóng: tổng sơ đồ 6 vừa được phê duyệt để thay thế tổng sơ đồ 5, nhưng nó gần như chưa được thực hiện lại phải làm tiếp tổng sơ đồ 7?

– Người ta đang đặt ra nhiều vấn đề cho tổng sơ đồ 6. Năm 2006-2007 làm tổng sơ đồ này trong tình trạng thiếu điện nghiêm trọng về mùa khô, người ta sợ quá nên phải nâng nhu cầu, nâng mức dự báo lên và tạo ra một bức tranh rất hoành tráng về điện.

Người ta tính từ nay đến năm 2020 thiếu khoảng 100 triệu tấn than cho nhiệt điện. Nhưng thực tế không đến mức như vậy, tôi nghĩ rằng tổng sơ đồ 6 phá sản và người ta đang phải làm gấp tổng sơ đồ 7 để điều chỉnh. Cũng vì tổng sơ đồ 6 đã vẽ một bức tranh hoành tráng về điện nên người ta dự báo phải nhập khẩu than từ năm 2012, tôi cho rằng không đến mức như vậy.

* Như vậy theo ông, khi nào chấm dứt cảnh thiếu điện?

– Nếu hai nhà máy nhiệt điện trên đưa vào hoạt động được trong năm nay, cộng thêm sản lượng điện bổ sung từ tổ máy số 1 thủy điện Sơn La dự kiến phát điện vào cuối năm nay thì sẽ không thiếu điện. Những năm tới nếu các nhà máy nhiệt điện có công suất lớn như: Nghi Sơn (Thanh Hóa), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Mông Dương (Quảng Ninh)… vận hành thì không thể thiếu điện.

LK

Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/386088/Thieu-dien-keo-dai-Phai-noi-that-voi-nguoi-dan.html

Nhiệt điện Hải Phòng và Quảng Ninh chậm tiến độ: Các bên đổ lỗi cho nhau

TT – Có quá nhiều lý do khiến hai nhà máy nhiệt điện chậm tiến độ đến hàng chục tháng trời. Trong khi đó giải thích về nguyên nhân chậm trễ, cả chủ  đầu tư và nhà thầu đều đổ lỗi cho nhau…

Tổ máy số 2 của nhiệt điện Hải Phòng vẫn trong giai đoạn lắp đặt, chậm tiến độ 18 tháng – Ảnh: M.Q.

Theo kế hoạch, giữa năm 2010 hai nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1, 2 và nhiệt điện Hải Phòng 1, 2 với tám tổ máy phải hòa lưới điện quốc gia với tổng công suất 2.400MW. Thế nhưng đến nay mới chỉ có hai tổ máy túc tắc vận hành, còn lại đều phập phù, thậm chí chưa được lắp đặt.

Theo chủ đầu tư, nguyên nhân chính là nhà thầu thi công chậm, hàng loạt công đoạn hiệu chỉnh các tổ máy bị trục trặc. Trong khi đó, nhà thầu đổ lỗi chủ đầu tư bàn giao mặt bằng chậm, không có năng lực vận hành…

Quá nhiều sự cố

Nhà thầu không muốn vận hành chạy thử

Ông Từ Quang Hạo đưa ra vấn đề nhà thầu cần thuê chuyên gia vận hành mới đảm bảo hoạt động của các tổ máy, nhưng ông Nguyễn Văn Dũng – phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh – bác bỏ đánh giá này. Ông Dũng khẳng định đây là hợp đồng EPC nên chỉ khi nào nhà thầu bàn giao toàn bộ thì chủ đầu tư mới tiếp quản, nếu cần thuê chuyên gia thì tới thời điểm đó mới thuê. Hiện tại, Nhiệt điện Quảng Ninh chưa bàn giao nên không thể nói chuyện thuê chuyên gia. Theo ông Dũng, để chạy thử, hiệu chỉnh các tổ máy và phát điện lên lưới, góp phần giảm căng thẳng thiếu điện thời gian qua, nhà thầu đã phải chi hàng triệu USD cho việc mua nhiên liệu vận hành tổ máy. Do đó khi hết tiền thì nhà thầu không muốn vận hành nữa.

Ngày 26-6, tại công trường hai nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh và Hải Phòng vẫn ngổn ngang nguyên vật liệu và thiết bị chờ lắp đặt. Cả hai nơi mới cơ bản hoàn thành xây dựng nhà máy nhiệt điện số 1.

Tại Hải Phòng, hiện chỉ có tổ máy số 1 hoạt động trong tình trạng vừa chạy vừa hiệu chỉnh, sửa chữa sau nhiều trục trặc, hỏng hóc. Theo ông Trần Hữu Nam – tổng giám đốc Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng, tiến trình xây dựng Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1 chậm khoảng 20 tháng. Cụ thể, tổ máy số 1 (Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1) phát điện lên mạng lưới quốc gia từ tháng12-2009 được 153 triệu kWh nhưng chỉ được gần một tháng đã gặp sự cố hư hỏng bộ quá nhiệt. Nhà thầu buộc phải thay thế 90 ống quá nhiệt và hệ thống điện. Đó là chưa kể những sự cố khác như xì hơi đường ống, trục trặc hệ thống nước tuần hoàn… phải xử lý mất không ít thời gian. Đến ngày 12-6 tổ máy 1 mới được vận hành, phát điện vào mạng lưới quốc gia. Còn tổ máy số 2 vẫn đang lắp đặt, chưa được chạy thử để hiệu chỉnh thiết bị nên khả năng phát điện còn xa vời, dù đến nay đã chậm tiến độ 18 tháng so với kế hoạch.

Tại Quảng Ninh, ngày 12-5 tổ máy số 1 (Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1) bắt đầu phát điện lên mạng nhưng chỉ hơn hai tháng vận hành chính thức thì gặp sự cố, chưa có khả năng hòa lưới điện quốc gia. Theo thống kê của chủ đầu tư, có tới 17 sự cố của tổ máy này cần khắc phục, dẫn đến việc tổ máy nằm “đắp chiếu”. Riêng tổ máy số 2 bắt đầu hòa lưới điện quốc gia từ ngày 2-6 nhưng phải dừng vận hành năm lần do sự cố. Đến nay, tổ máy này mới phát lên lưới khoảng 50 triệu kWh.

Ngoài việc các tổ máy đã lắp đặt liên tục gặp trục trặc, hai nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 2 và Quảng Ninh 2 đều chưa thành hình. Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 2 chậm tiến độ gần hai năm. Nhà máy này mới chỉ thi công được khoảng 20% hạng mục, chủ yếu hạng mục dùng chung với nhà máy 1. Tương tự, Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 2 mới chỉ đạt 31% khối lượng công việc, phải dừng thi công từ tháng 11-2009 đến nay do nhà thầu không có nhân lực. Theo đúng tiến độ, tổ máy số 3 của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 2 phải phát điện vào tháng 2-2010 và tổ máy số 4 dự kiến tháng 7-2010.

Toàn cảnh Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh 1. Theo dự kiến của Tập đoàn Điện lực VN, đầu tháng 7 sẽ đưa vào hoạt động nhưng đến nay vẫn còn ngổn ngang – Ảnh: Ngọc Hà

Chủ đầu tư trách nhà thầu

Đánh giá về việc chậm tiến độ của Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng 1, ông Trần Hữu Nam xác định nguyên nhân chính từ phía nhà thầu Trung Quốc. Cụ thể, hợp đồng nhà máy là hợp đồng thiết kế, mua sắm thiết bị và xây dựng trọn gói (EPC), bàn giao cho chủ đầu tư sau khi nhà máy vận hành tốt. Nhưng do khó khăn về kinh tế giai đoạn cuối 2008-2009 nên nhà thầu không cung cấp được nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ xây dựng.

Viện lý do này, Tập đoàn điện khí Đông Phương (tổng thầu công trình) từng đề nghị chủ đầu tư bù giá 100 triệu USD do trượt giá nhưng không được chấp nhận. Không những thế, nhà thầu cũng không bố trí đủ công nhân cho công trình nên tiến độ đã chậm lại càng chậm.

Đáng chú ý, đến thời điểm này chủ thầu mới kết luận được nhà thầu Tập đoàn điện khí Đông Phương có năng lực quản lý hạn chế, thậm chí yếu kém. Theo hồ sơ dự thầu, Tập đoàn điện khí Đông Phương lần đầu thi công tại VN nên không có kinh nghiệm. Mối quan hệ giữa tổng thầu và các thầu phụ kém, không liên kết được các thầu phụ trong từng hạng mục công trình, không có kế hoạch về tiến độ hoàn thành hạng mục, dẫn đến chậm theo dây chuyền.

Ông Nam dẫn chứng cho thấy năng lực kém của nhà thầu là có những hạng mục đã xong nhưng không biết làm thủ tục thanh quyết toán, chủ đầu tư phải cầm tay chỉ việc, hướng dẫn thực hiện công tác này. Ông Nam cũng than phiền dù là tổng thầu nhưng việc nhập thiết bị của Tập đoàn Đông Phương không khoa học, “có cái cần nhập trước họ chưa nhập, cái chưa cần thì lại nhập trước”…

Tại Quảng Ninh, Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh (chủ đầu tư) cũng xác định Tập đoàn Điện khí Thượng Hải hoàn thành các phần việc không đúng tiến độ, mới vận hành thử và chạy tin cậy đã xuất hiện nhiều sự cố, công tác sửa chữa của nhà thầu chậm chạp do không có sẵn vật tư, thiết bị thay thế đặt hàng từ Trung Quốc gửi sang chậm. Nhà thầu này cũng không đủ nhân lực, chủ đầu tư phải hỗ trợ cả nhân lực cho nhà thầu.

Nhà thầu “kêu” chủ đầu tư

Trong khi chủ đầu tư phàn nàn nhà thầu thì cả hai nhà thầu nhiệt điện Quảng Ninh và Hải Phòng đều phàn nàn chậm tiến độ một phần do công tác bàn giao mặt bằng chậm. Thực tế cho thấy trên công trình Nhiệt điện Hải Phòng, mặt bằng nhà máy 1 bàn giao chậm bảy tháng, nhà máy 2 chậm 14 tháng và Nhiệt điện Quảng Ninh cũng gặp tình trạng tương tự.

Ông Từ Quang Hạo (quốc tịch Trung Quốc), phó giám đốc văn phòng dự án Quảng Ninh (Tập đoàn Điện khí Thượng Hải), còn cho rằng việc chậm tiến độ là do khủng hoảng kinh tế, điều kiện thi công khó khăn, đến nước ngọt có khi cũng phải chở từ Trung Quốc sang. Đặc biệt, ông Hạo nói tổ máy số 1 không bị sự cố mà vì phía VN chưa có cán bộ quản lý đáp ứng vận hành hoạt động của nhà máy nên chưa thể chuyển giao công nghệ. Đến nay nhà thầu vẫn phải vận hành cho chủ đầu tư miễn phí.

MINH QUANG – CẦM VĂN KÌNH

Nguồn: http://123.30.128.12/Chinh-tri-Xa-hoi/386851/Nhiet-dien-Hai-Phong-va-Quang-Ninh-cham-tien-do-Cac-ben-do-loi-cho-nhau.html

Filed under: Kinh Tế-Đời Sống, ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: