CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

VĂN HÓA BLOG: CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA ĐÁM ĐÔNG

Gần đây, mỗi lần tôi nói chuyện với bạn bè hay có khi chỉ là người quen tình cờ gặp gỡ đâu đó, đề tài hầu như bao giờ cũng xoay quanh các bài viết của tôi trên blog này. Thì cũng bình thường. Trước kia, cũng thế. Phần lớn các bài viết của tôi đăng hoặc trên báo in hoặc trên website đều có khá nhiều phản hồi và cũng là đề tài trong các buổi chuyện gẫu. Nhưng từ ngày tôi viết trên blog thì khác. Người ta không chỉ nói về bài viết của tôi. Mà còn, có khi, nhiều hơn, về các ý kiến phản hồi ở dưới mỗi bài. Nhiều người khoe là mỗi ngày họ vào blog không phải một mà là hai, ba, hoặc, thậm chí, năm bảy lần. Dĩ nhiên không phải để đọc lại bài viết của tôi. Mà là để theo dõi các ý kiến đóng góp của bạn đọc. Và người ta nhớ tên một số người thường đóng góp ý kiến. Người ta bình luận. Người ta phân tích không những cái đúng cái sai mà còn cả các hậu ý, có khi là hậu ý chính trị, đằng sau các ý kiến ấy. Nhiều buổi nói chuyện để lại trong tôi ấn tượng là người ta không quan tâm mấy đến bài viết của tôi mà chỉ tập trung vào các ý kiến của người đọc.

Đó là điều lạ.

Tôi làm báo từ lâu, ngay từ lúc mới rời Việt Nam sang định cư tại Pháp. Sang Úc, tôi cũng làm tờ Việt (1998-2001), tờ tạp chí văn học tiếng Việt thực sự chuyên nghiệp đầu tiên tại Úc. Ngoài ra, bài vở của tôi cũng được đăng tải trên hầu hết các tạp chí văn học ở hải ngoại. Rồi tôi viết sách. Viết khá nhiều. Và tất cả, theo các nhà xuất bản, đều thuộc loại bán được. Có thể nói, sau hơn hai mươi năm cầm bút, tôi có một lượng độc giả nhất định, chắc chắn không ít hơn bất cứ một cây bút chuyên về lý luận hay phê bình văn học nào. Vậy mà, trong một thời gian rất dài, tất cả các độc giả ấy đều giấu mặt, xa cách, vô danh, có cảm tưởng không hề hiện hữu bao giờ.

Thì, thật ra, cũng có một số người lên tiếng đâu đó. Một số người viết thư hoặc gửi email đến tôi để bày tỏ cảm nghĩ này nọ. Nhưng, thứ nhất, con số ấy không nhiều; thứ hai, họ vẫn lên tiếng với tư cách cá nhân, thứ ba, hầu hết, nếu không nói là tất cả, đều là những người tán đồng hoặc ít nhiều mến mộ tôi; và thứ tư, họ vẫn là những độc giả cô đơn, khuất lánh: Tôi nghe họ như nghe những tiếng thầm thì, từ xa. Có khi xa lắc. Và chậm. Có khi thật chậm, nhiều lúc cả mấy năm, thậm chí, hàng chục năm sau khi bài viết đã đăng hoặc sách đã xuất bản. Nghe như những tiếng vọng muộn màng của một hòn đá ném vào hư không. Thăm thẳm.

Bây giờ thì khác. Độc giả không còn là một đám đông vô danh và thầm lặng nữa. Và không phải chỉ có những người ái mộ. Sau mỗi bài viết có khi có cả hàng chục, hay hàng trăm người phát biểu. Trong số đó, có một số người tôi biết; còn lại: hoàn toàn không. Không phải ai cũng đồng ý với tôi. Nhiều người phản bác, thậm chí, lúc nào cũng phản bác. Không phải ai cũng dịu dàng, lịch sự. Nhiều người rất sân si, đầy những hằn học. Điều thú vị là không phải ai cũng góp ý với tôi. Người ta còn góp ý với nhau. Cãi cọ nhau. Vô tình hình thành một trận tuyến giữa các độc giả.

Trên sân khấu văn học ngày xưa, giữa các tạp chí và sách, chỉ có một mình tác giả. Nói là “sân khấu”, nhưng sân khấu ấy lại chìm khuất trong bóng tối. Người ta viết văn một mình. Lúc nào cũng một mình. Ngay cả khi, trong một số tác phẩm nào đó, viết chung với bạn bè hay đồng nghiệp, thì mỗi người vẫn viết một mình. Mỗi người ngồi trước một computer hay laptop. Chung quanh là sách. Chỉ có sách. Bài viết hay sách in ra, có khi chìm lỉm trong im lặng mênh mông. Tôi biết nhiều người cầm bút thèm nghe một hồi âm, kể cả một tiếng chửi: Cũng không có. Người ta băn khoăn: Độc giả ở đâu rồi nhỉ?

Độc giả vẫn có đấy chứ. Đông nữa là khác. Hàng triệu, hàng chục triệu người. Nhưng họ chỉ là một đám đông vô danh và vô thanh. Có thể thấy điều đó ngay trong tiếng Việt: chữ “tác giả” bao giờ chỉ hàm ý số ít. Muốn nhấn mạnh đến số nhiều, chúng ta phải thêm số đếm (1,2,3..) hay các chữ “các”, “những”… phía trước. Chữ “độc giả”, ngược lại, bao giờ cũng hàm ý chỉ số nhiều. Muốn nhấn mạnh đến số ít, chúng ta phải thêm chữ “một” phía trước. Như vậy, có một nghịch lý: tác giả là một cá nhân nhưng lại là một công chúng (public) sừng sững trên sân khấu, trở thành trung tâm của mọi sự chú ý, trong khi công chúng thực sự, tức đám đông độc giả, thì lại là những gì hết sức riêng tư (private), hết sức âm thầm và lặng lẽ. Không ai nghe tiếng của họ cả.

Bây giờ thì khác.

Bây giờ, trên các trang blog, độc giả đồng khởi. Đúng là một cuộc khởi nghĩa của đám đông, vốn cả hàng ngàn năm nay, bị xem là thầm lặng, vô danh và vô thanh. Đọc xong, người ta không còn thụ động gật gù hay lắc đầu thở ra. Người ta có thể lên tiếng ngay. Đang ngồi trước computer nối mạng, chỉ cần vài ba động tác nhanh gọn, ý kiến của họ xuất hiện, có khi gần như ngay tức khắc. Và, điều đáng nói là, những ý kiến ấy cũng được đọc không kém gì các bài viết chính của các blogger. Họ cũng có người đọc của họ. Ý kiến của họ có khi cũng trở thành đề tài để bàn tán sôi nổi, trên blog cũng như ngoài xã hội. Như vậy, trên blog, không những tác giả mà cả độc giả cũng có độc giả.

A! Đó mới chính là điều lý thú: Độc giả cũng có độc giả.

Trước, những tưởng độc giả là đặc quyền của tác giả. Chỉ có tác giả mới có độc giả. Chỉ có những tác giả nổi tiếng mới có nhiều độc giả. Và chỉ có những tác giả lớn, thật lớn, mới có những độc giả trung thành, lâu dài, thuộc nhiều thế hệ. Bây giờ, trên blog, lạ chưa, ngay cả độc giả cũng có thể có độc giả của họ. Điều đó không những có thể làm cho các cụ Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du sửng sốt. Mà ngay các vị vừa mới qua đời cách đây không lâu, từ Nguyễn Tuân đến Mai Thảo, từ Trần Dần đến Thanh Tâm Tuyền, có lẽ không thể nào tưởng tượng nổi.

Khi độc giả cũng có độc giả, ranh giới giữa tác giả và độc giả có còn không? Còn, dĩ nhiên. Nhưng rất mờ. Trên nhiều blog, kể cả blog của tôi, một số độc giả cũng lưu lại trong ký ức các độc giả khác một dấu ấn nhất định. Họ cũng trở thành những tên tuổi nhất định. Dĩ nhiên chỉ là tên tuổi ảo. Những tên tuổi ấy còn đọng lại trong ký ức tập thể lâu hay mau thì còn tuỳ. Chưa thể biết được. Có thể đó là điểm khác nhau giữa một tác giả-độc giả và một tác giả thực sự.

Nhưng trước mắt thì chúng ta có thể nhìn thấy có một cái gì giống như một diễn đàn hết sức dân chủ trên mạng lưới internet, ở đó, viết văn thực sự là tiến hành một cuộc đối thoại. Là đối thoại, mọi tiếng nói đều bình đẳng. Tác giả chỉ còn là người gợi đề tài và gợi ý chứ không phải là người quyết định. Chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu cho hai đặc điểm nổi bật nhất của blog là tính chất phi tâm (non-centralized) và phi-đẳng cấp (non-hierarchical). Và cũng chính vì thế, tôi tin blog là nơi diễn tập của tinh thần dân chủ.

Người ta hay nói các chế độ dân chủ ở phương Tây vững mạnh vì văn hoá dân chủ đã được bén rễ sâu rộng không phải chỉ trong giới làm chính trị hay quản trị mà còn cả trong quần chúng: Mọi người đều biết các quyền và giới hạn của các quyền mà mình có. Quan cũng như dân. Và một số người lo lắng: Việt Nam, nếu có được một chế độ dân chủ thì chưa chắc đã đứng vững được khi chính người dân, hầu hết người dân, chưa bao giờ được rèn luyện trong một nền văn hoá dân chủ.

Những quan niệm như vậy còn có thể tranh luận dài dài. Cũng như chuyện con gà và cái trứng, cái nào có trước?

Nhưng theo tôi, trong bất cứ trường hợp nào, thì blog, nơi chứng kiến các cuộc đồng khởi của các độc giả vốn thầm lặng, vẫn là một diễn tập tốt, từ đó, chúng ta hy vọng nhìn thấy sự hình thành và phát triển của một thứ văn hoá dân chủ, vốn là một trong những điều chúng ta cần nhất hiện nay.

Và mai sau nữa.

Nhìn vấn đề như thế, chúng ta cũng sẽ thấy dễ hiểu là tại sao chính quyền, các chính quyền độc tài, lại sợ các blog.

Mà sợ cũng phải.

Bạn có đồng ý vậy không?

Nguyễn Hưng Quốc
Theo VOA

Văn hoá blog (2): Cuộc chiến chống độc tài

Viết loạt bài “Văn hoá blog” này, tôi đọc khá nhiều sách, trong đó, có nhiều tài liệu nhất là cuốn “Blogosphere, the New Political Arena” của Michael Keren do Lexington Books xuất bản năm 2006. Trong cuốn sách ấy, có một trích dẫn tôi rất lấy làm tâm đắc: Theo Ted Landphair, nếu cuốc chiến Mỹ – Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 19 là cuộc chiến báo chí, Đệ nhị thế chiến là cuộc chiến radio, chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến ti vi thì hai cuộc chiến tranh ở Iraq vào đầu thập niên 1990 và đầu thế kỷ 21 vừa qua là cuộc chiến tranh internet. (tr. 6)

Xin nói một chút về cuộc chiến ti vi.

Giới sử gia và nghiên cứu chính trị thường gọi chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ti vi (television war) hay chiến tranh truyền thông (media war) hay chiến tranh trong phòng khách (lounge room war): Tất cả đều nhấn mạnh đến vai trò của ti vi trong cuộc chiến tàn khốc và kéo dài đăng đẵng ấy, trong đó nạn nhân chủ yếu là chính chúng ta, người dân ở cả hai miền Nam và Bắc, không những trước 1975 mà còn cả khá lâu sau đó nữa.

Thời ấy, vào đầu thập niên 1960, kỹ nghệ truyền hình ở Mỹ phát triển rất mạnh.  Hầu hết các gia đình ở Mỹ đều có ti vi. Họ xem quảng cáo chủ yếu trên ti vi. Họ xem phim và các chương trình giải trí khác chủ yếu trên ti vi. Và, quan trọng nhất, họ xem tin tức ở Mỹ cũng như khắp nơi trên thế giới cũng chủ yếu trên ti vi. Đáp ứng nhu cầu ấy, vào khoảng giữa thập niên 1960, cả ba hệ thống truyền thông lớn ở Mỹ, ABC, NBC và CBS đều tăng thời lượng phát tin buổi tối từ 15 đến 30 phút.

Say mê trước phương tiện truyền thông đại chúng mới mẻ và hấp dẫn ấy, chính phủ Mỹ đã vấp phải một sai lầm nghiêm trọng trong chiến tranh Việt Nam: Họ cho phép các phóng viên chiến trường đến bất cứ nơi nào các phóng viên ấy muốn. Không những cho phép, họ còn mời mọc. Phóng viên có thể len lách vào bất cứ ngõ ngách nào của cuộc chiến. Phóng viên được tháp tùng tướng lãnh và binh sĩ trong các trận đánh. Những hình ảnh nóng hổi của chiến tranh được phát rộng rãi trên hệ thống truyền hình Mỹ mỗi ngày, mỗi ngày. Hậu quả là chiến tranh Việt Nam lôi cuốn không phải chỉ có đám thanh niên đến tuổi quân dịch mà còn toàn bộ dân chúng, từ người già đến trẻ thơ, từ giới trí thức đến giới bình dân, từ cánh đàn ông vốn hay quan tâm đến chính trị đến những người phụ nữ, là mẹ và là vợ, vốn, theo truyền thống, ít chú ý đến các cuộc bắn giết, nhất là ở những xứ sở xa lơ xa lắc. Thế nhưng, với chiếc máy truyền hình để ngay giữa phòng khách, người ta vừa ăn tối vừa nhìn hình ảnh lính Mỹ, trong đó, có thể có chồng, con, cháu, bạn bè, người thân quen của họ đang lặn lội trong rừng sâu, nổ súng vào những người dân xa lạ, và có thể bị những người xa lạ ấy bắn giết.

Có thế nói ti vi đã giản lược hoá một cuộc chiến tranh vô cùng phức tạp giữa nhiều lực lượng và với những động cơ hoàn toàn khác nhau, vừa ở tầm quốc gia vừa ở tầm quốc tế, vừa có tính chất ý thức hệ vừa có tính chất địa phương chủ nghĩa, thành một số hình ảnh rất cụ thể, và vì cụ thể nên thành thiên lệch. Trong số các hình ảnh ấy, nổi bật là hình ảnh Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963, hình ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan chĩa súng bắn vào đầu một người lính Bắc Việt vào tết Mậu Thân, và hình ảnh Kim Phúc trần truồng chạy với vết lửa từ bom Napalm cháy rực sau lưng vào năm 1972.

Tiếc, cả ba hình ảnh ấy đều quy tội vào một hướng: chính phủ miền Nam. Hậu quả là, dưới mắt dân chúng Mỹ, cuộc chiến tranh, thoạt đầu, được tuyên truyền như một chính nghĩa, sau, dần dần, dưới mắt dân chúng, biến thành một sự phi lý. Ý thức phản chiến càng lúc càng phát triển mạnh mẽ. Và phong trào phản chiến bùng nổ khắp nơi. Tham gia vào các phong trào phản chiến ấy có những thành phần vốn được xem là phi-chính trị trước đây: học sinh, sinh viên và nhất là phụ nữ. Họ, chính họ, đã tạo nên một sức ép mạnh mẽ lên chính quyền Mỹ; cuối cùng, chính phủ Mỹ đã nhượng bộ bằng cách rút quân ra khỏi Việt Nam. Chính vì vậy, nhiều người cho Mỹ không thua trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Họ chỉ thua cuộc chiến tranh trên ti vi ở ngay trên đất nước của họ.

Đó là một trong những bài học lớn nhất mà Mỹ đã học được từ chiến tranh Việt Nam. Và họ đã áp dụng nó một cách triệt để trong hai cuộc chiến tranh ở Iraq và ở Afghanistan hiện nay. Ở cả ba cuộc chiến tranh, phóng viên chiến trường không được phép theo quân đội ra mặt trận. Nhiều phóng viên kể: khi đến vùng Vịnh để theo dõi và tường thuật các diễn biến cuộc chiến ngay tại chỗ theo yêu cầu của các toà báo, họ chỉ làm được mỗi một việc là ngồi trong căn phòng nào đó, mở ti vi lên, xem chương trình tin tức của CNN để biết những gì đang xảy ra ở vùng Vịnh! Mà những hình ảnh ấy do ai cung cấp? Do quân đội Mỹ! Chúng được gạn lọc rất kỹ. Hầu hết là những hình ảnh từ xa: các phản lực cơ chiến đấu vừa cất cánh, các hoả tiễn vừa được bắn, kéo theo những vệt sáng trong đêm, các chiếc xe chở đầy lính lăn bánh trên đường, các tướng lĩnh đang đăm đăm nhìn lên các tấm bản đồ trên tường. Hết. Không thấy cảnh những em bé bị bom napalm gào thét đau đớn và kinh hoàng với những ngọn lửa đỏ rực trên thân thể trần truồng như hình ảnh Kim Phúc ngày nào. Không thấy cảnh những xác người bị giết chồng chất trên mặt đất như vụ Mỹ Lai. Không thấy cảnh người nào dí súng vào đầu quân địch như hình ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan hồi Tết Mậu Thân. Chính vì vậy, Jean Baudrillard mới lý luận: cuộc chiến ở vùng Vịnh vào năm 1991 là không có thật (“The Gulf War Did Not Take Place” do Paul Patton dịch sang tiếng Anh, Power Publications xuất bản tại Sydney năm 1995).

Không có ti vi, hầu hết các tin tức về cuộc chiến tranh ở Iraq vào năm 1991 và 2003 cũng như chiến tranh Afghanistan hiện nay đều đến chủ yếu từ internet.

Trên internet, hình thức chính là blog.

Qua các blog do binh sĩ hoặc thường dân viết, người ta mới tiếp cận được những thông tin chính xác và cụ thể nhất của chiến tranh, từ những nỗi sợ hãi, đau đớn đến hoài nghi, thất vọng, phẫn nộ, hoang mang, và bế tắc của chiến tranh; người ta mới thấy được máu và nước mắt; nghe được những tiếng khóc và những tiếng thở dài của những người dân vô tội. Blog làm cho cuộc chiến tranh trở thành có thật chứ không phải chỉ là những ý niệm xa xôi, mơ hồ và trừu tượng nữa. Blog trám vào các khoảng trống do các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống để lại.

Trong chiến tranh, blog đóng vai trò quan trọng như thế. Ở các nước độc tài, blog cũng đóng vai trò tương tự.

Khi tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng đều nằm trong tay nhà nước hoặc bị nhà nước kiểm soát và kiềm chế, bằng cách nào người dân biết được sự thật? Trước, chủ yếu là tin đồn bằng miệng. Bây giờ là blog. Blog trở thành lối thoát duy nhất cho những người thấp cổ bé miệng. Và của sự thật.

Mà không phải chỉ ở những xứ độc tài toàn trị như Việt Nam. Ngay ở những quốc gia tự do, thật tự do, như Mỹ, chẳng hạn, blog cũng là một lối thoát để vượt khỏi ách độc tài của các thế lực thương mại. Theo Ben Compaine, trong bài “Does Rupert Murdoch control the media? Does anyone?”, mười công ty truyền thông lớn nhất vào thập niên 1980 cung cấp 38 phần trăm, và vào thập niên 1990, 41 phần trăm tổng số tin tức được phổ biến tại Mỹ. Viết năm 2004, Compaine, dù sao, cũng lạc quan khi cho tình trạng ấy không tăng vọt theo thời gian và viễn tượng một sự độc quyền về thông tin vẫn còn xa vời. George Washington, trong bài “Blogs: Crucial or a Waste of Time?” đăng trên Washington’s Blog ngày 31 tháng 3 vừa qua, bi quan hơn, khi đồng ý với Dan Rather cho khuynh hướng độc quyền hoá trong thông tin càng lúc càng nhảy vọt trong suốt mấy thập niên vừa qua. Hiện nay, theo ông và Dan Rather, “khoảng 80 phần trăm truyền thông tại Mỹ bị kiểm soát bởi dưới sáu, có thể chỉ là bốn, tổ hợp khác nhau” mà thôi.

Đồ biểu dưới đây cho thấy độc quyền hoá các tổ hợp truyền thông (bao gồm báo chí, tạp chí, truyền hình và truyền thanh, sách, nhạc, phim ảnh, video, v.v…) tại Mỹ từ năm 1983 đến 2004:

Dĩ nhiên,  ở các xã hội tự do, chú tịch hay tổng giám đốc các tổ hợp lớn hay giám đốc các công ty truyền thông thường ít khi trực tiếp chi phối nội dung bài vở của nhân viên hoặc cộng tác viên. Tuy nhiên, dù sao họ cũng có những định hướng nhất định. Có định hướng là có hạn chế. Bởi vậy, không có gì lạ khi nhiều người tin blog là một trong những cách thức khắc phục những hạn chế.

Còn việc khắc phục được đến đâu thì lại là một việc khác.

Còn phải chờ xem.

Filed under: Chính Trị-Xã Hội, Giáo Dục-Tuổi Trẻ, , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: