CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

THẤY GÌ QUA CÁC VỤ PHÁ GIÁ ĐỒNG TIỀN?

Vừa ra Tết, khi người dân Việt Nam bắt đầu đi làm ngày đầu tiên, thông tin tăng giá xăng đã làm những người quan tâm đến giá cả định hình ngay được tính nhạy cảm của lạm phát năm nay.

Ngày hôm sau nữa thì có thông tin về tăng giá điện, mức tăng là 6,8%, cao hơn so với phương án đề xuất phê duyệt của Bộ Công thương là 4,91%. Nhiều người cảm thấy bất ngờ. Và chắc chắn lạm phát đúng là một bài toán khó cho điều hành kinh tế năm 2010.

Lạm phát tăng cao

Trong năm 2009 vừa qua, Nhà nước Việt Nam liên tục phá giá đồng tiền. Vào tháng 11/2009, đồng tiền Việt Nam bị mất giá 5,44% so với đôla Mỹ. Mới đây nhất là vào ngày 12/2/2010 (nhằm ngày 28 tết Nguyên Đán), đồng tiền Việt Nam lại giảm 3,4% so với đô la Mỹ.

Theo giải thích của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, việc điều chỉnh lại tỷ giá, hay nói cho đúng là phá giá đồng tiền Việt Nam là nhằm “cân đối hài hoà cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô”.

Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo là biện pháp phá giá đồng tiền có nguy cơ làm tăng lạm phát và thâm hụt thương mại. Năm 2009, thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam được đánh giá lên tới 12,2 tỷ đô la. Trong năm 2008, lạm phát của Việt Nam tăng vọt 23%, sau đó giảm xuống còn 6,88% trong năm 2009. Tuy nhiên, theo giới quan sát, trong thời gian gần đây, lạm phát lại có xu hướng tăng, có thể lên tới 7,62%.

Ai cũng biết, hậu quả lớn nhất của việc định giá cao đồng nội tệ VNĐ là làm giảm tăng trưởng xuất khẩu và kích thích nhập khẩu. Hạn chế sự phát triển nông nghiệp, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế, và tăng hàng rào bảo hộ mậu dịch. Điều này ảnh hưởng lớn đến với người dân Việt Nam, khi có đến hơn 75% dân số là nông dân.

Theo bài báo “Giữ được lạm phát 7% là một kỳ công” được đăng trên trang nhất báo Tuổi Trẻ vào ngày 24 tháng 2 vừa qua, TS Nguyễn Đình Ánh – Viện phó Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, cho biết: “Với việc tăng tỉ giá VNĐ/USD, giá xăng và tới đây là giá điện cũng tăng, thì giữ được lạm phát năm 2010 như Quốc hội giao là một kỳ công, nếu không muốn nói là không thể”.

Sự lúng túng của Đảng

Khả năng quản lý kinh tế của Đảng Cộng sản đang bị “tòa án công luận” đưa ra xét xử, với bằng chứng được trưng ra là một tỷ giá hối đoái đang mất giá đều đặn trên thị trường chợ đen đã buộc Ngân hàng Nhà nước phải cho giảm tỷ giá chính thức của tiền Đồng một cách định kỳ, mới nhất là 3,4% vào 28 âm tết âm lịch.

Những áp lực kinh tế này là phần cộng thêm vào nhiều rắc rối khác đã có sẵn của Nhà nước, xuất phát từ nỗi căm giận của công chúng về cách xử sự của nhà nước trong tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, hay những tranh chấp về số đất đai tịch thu của Giáo hội Công giáo. Biểu hiện của sự lúng túng ngày càng rõ rệt qua các cuộc đàn áp thẳng tay đối với tôn giáo và các nhà bất đồng chính kiến và ngăn chặn, hạn chế các trang mạng về dân chủ tại Việt Nam.

Khả năng cần có của chế độ trong việc quản lý nền kinh tế là một trong những tuyên bố của Đảng về tính chính danh của mình. Sự bất ổn về kinh tế được diễn dịch thành hành động thách thức đối với nhà cầm quyền. Theo thống kê chính thức, trong năm qua đã có hơn 200 cuộc đình công của giới lao động không được phép, và con số nhân công hãng xưởng ra về ngang xương lên đến hàng chục ngàn. Số nông dân kéo đến biểu tình trước các cửa quyền về việc trưng thu đất đai của họ đã trở thành một “chuyện thường ngày ở huyện”.

“Vết thương” bauxite vẫn chưa được “lên da non” thì ngay lập tức Nhà nước lại “xát muối” vào vết thương còn chưa lành hẳn bằng cách cho phép Trung Quốc “thuê” đất trồng rừng đầu nguồn dài hạn ở mười tỉnh thành Bắc – Trung – Nam Việt Nam. Nhiều blogger Việt Nam đã cáo buộc rằng Hà Nội đang xúc tiến cuộc mạo hiểm này cho việc làm giàu cá nhân của một số cán bộ cao cấp và để giảm bớt nhu cầu tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc.

Không thể khuất phục được “tính đối kháng”.

Kể từ tháng Mười vừa qua, chính quyền Việt Nam đã kết án 17 người hoạt động (dân chủ) trong một loạt phiên xử chỉ diễn ra vỏn vẹn trong vòng một ngày về tội tuyên truyền chống phá, lật đổ nhà nước, và hành hung người khác.

Thế nhưng cho đến nay những người đối nghịch với chế độ vẫn có vẻ không sợ sệt. Hệ thống Internet đã cho phép người dân Việt Nam tổ chức (mà không có sự cho phép của nhà cầm quyền) và chia sẻ tư tưởng ngày càng đông và mạnh bạo. Trong khi nhà nước đang cố gắng giam giữ blogger, họ vẫn không thể hạn chế được việc sử dụng Internet nhiều lắm, bởi các doanh nghiệp đều phụ thuộc vào mạng lưới Internet.

Và nếu sự hạn chế đi quá xa, Đảng Cộng Sản sẽ gặp sự rủi ro là ly gián hàng triệu khách sử dụng Internet, trong đó có nhiều người trẻ, là những con em rất thành đạt của giới cầm quyền.

Kết luận

Sự mất giá tiền tệ trong đầu năm nay chỉ là một triệu chứng của một sự bất ổn to tát hơn nhiều.

Giới trí thức đã dần nhận ra được sự lúng túng và băng hoại đang xảy ra trên đất nước Việt Nam. Nhưng nếu Nhà nước tiếp tục trấn áp và kiềm hãm, ắt sẽ gây ra mất lòng tin của tất cả dân chúng, bao gồm thành phần nông dân. Bởi vì bao nhiêu người sẽ tích cực hỗ trợ hệ thống hiện tại nếu nền kinh tế tiếp tục đi xuống cùng các vấn đề chủ quyền đất nước và quyền con người như tự do dân chủ, tôn giáo?

Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả, đang sống ở Việt Nam.

Trần Thắng, Nha Trang
Nguồn: BBCVietnamese.com

Đừng Lạm Dụng Từ “Thị Trường”

Từ thị trường, nền kinh tế thị trường, cơ chế thị trường bị lạm dụng hơi nhiều ở Việt Nam ta. Bao nhiêu vấn đề tiêu cực được đổ tại cơ chế thị trường, dù thực sự là do chính sách tồi gây ra, do cơ quan nhà nước không làm tốt công việc của mình, thậm chí, không làm việc của mình mà đi làm việc người khác.

Người ta bàn về lạm phát, về điều chỉnh giá điện, than, v.v… cũng lại mang thị trường ra để biện bạch một cách lạ lùng.

Có thể liệt kê vô vàn thí dụ về sự lạm dụng (hay nói nhẹ hơn, thiện chí hơn, là nói về sự kém hiểu biết hay lầm lẫn trong sử dụng khái niệm, vì “lạm dụng” hàm ý họ hiểu kỹ khái niệm và cố ý dùng sai đi để bao biện thì có thể hơi nặng).

Chỉ xin nêu một thí dụ nóng hổi khi “giải mã lạm phát”, một tờ báo đưa tin một ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nói rằng:

Chúng ta thường nói với nhau là xây dựng một nền kinh tế thị trường, tôn trọng quy luật của thị trường, vậy thì giá điện hay giá mặt hàng nào đó tăng hay giảm đều phải chấp nhận (nếu nó đúng với quy luật thị trường). Nghệ thuật điều hành của Chính phủ ở chỗ đầu vào là kinh tế thị trường nhưng đầu ra là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Không rõ báo có viết đúng ý ông hay không. Nếu không đúng như vậy, báo nên cải chính và xin lỗi ông, và ông cũng nên nói lại cho dư luận được rõ. Còn nếu phải, tôi xin bàn luận sự nhầm lẫn về vai trò và cái khái niệm đầu vào và đầu ra khá lạ này.

Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành của một nền kinh tế do tác động của các quan hệ cung cầu hình thành tự phát trên thị trường chứ không phải do Nhà nước quy định bằng các biện pháp hành chính.

Nếu có cạnh tranh lành mạnh, cơ chế thị trường hoạt động hiệu quả và ít cần đến can thiệp của Nhà nước. Muốn có cạnh tranh lành mạnh, phải có ít nhất 2-3 người bán sàn sàn nhau, không câu kết với nhau.

Nhiệm vụ của Nhà nước là phải tạo ra môi trường pháp luật thuận tiện cho cơ chế thị trường hoạt động (thí dụ bằng các luật Doanh nghiệp, luật Thương mại, luật Phá sản, các Luật thuế, luật Cạnh tranh, v.v.) đảm bảo các thoả thuận tư đã được các bên ký kết phải được thực hiện nghiêm chỉnh (luật trọng tài, luật dân sự, hoạt động của các toà án, v.v.).

Hai mươi năm qua Việt Nam đã làm được rất nhiều để cơ chế thị trường hoạt động, song còn nhiều việc phải làm nữa.

Ngay cả trong trường hợp cơ chế thị trường hoạt động suôn sẻ, vẫn có nơi cạnh tranh bị hạn chế do độc quyền (dẫu là độc quyền tự nhiên, như bán lẻ điện và nước), do tác động ngoại lai, hay do các lý do khác mà cơ chế thị trường có nhiều khuyết tật và cần sự hoạt động của các cơ chế phi thị trường (mà can thiệp của Nhà nước là một trong số các cơ chế phi thị trường đó).

Cơ chế thị trường không hoạt động tốt ở các thị trường này. Ngay cả ở các thị trường nơi cơ chế thị trường hoạt động tốt, các cơ chế phi thị trường vẫn hoạt động. Vấn đề là mức độ hoạt động, nơi nó có nhiều khuyết tật thì cần cơ chế khác hoạt động mạnh hơn.

Không có sự đối lập giữa cơ chế thị trường và các cơ chế phi thị trường. Thay vào đó, chúng bổ sung cho nhau.

Một trong những cơ chế phi thị trường là cơ chế can thiệp của Nhà nước. Lẫn lộn và đối lập chúng với nhau, không phân biệt rõ thì rất dễ dẫn đến lạm dụng từ ngữ để biện bạch cho cái sai của chính mình.

Ít khi người làm sai lại nhận mình đã sai, nên việc lạm dụng để biện bạch như vậy cũng dễ hiểu. Nhưng để trong hiểu biết chung của dân và của các quan chức cấp cao nhầm lẫn như vậy thì lại là tai họa cho đất nước.

Xin nêu thí dụ về các thị trường nơi cơ chế thị trường nhiều khuyết tật và nhà nước có vai trò to lớn (làm thế nào, thí dụ bằng biện pháp hành chính, hoàn thiện các cơ chế phi thị trường khác, hay thông qua các cơ quan điều tiết độc lập, hoặc sự kết hợp chúng, v.v, là chuyện khác chưa bàn ở đây):

Thị trường điện, thị trường than ở ta hiện nay là như vậy, độc quyền, một người bán vạn người mua. Không có sự cạnh tranh giữa những người bán.

Chính vì thế viện dẫn đến thị trường, quy luật thị trường ở đây là hoàn toàn sai, là từ bỏ nhiệm vụ rất quan trọng của Nhà nước (kể cả khi có cơ quan điều tiết năng lượng độc lập cũng vậy).

Nếu có ba ông sàn sàn nhau, không thể cấu kết với nhau cùng bán than, thì câu chuyện lại khác (đấy là việc của Nhà nước phải làm). Cho nên trong trường hợp cụ thể của chúng ta hiện nay về than và điện (và nhiều lĩnh vực khác liên quan đến môi trường, y tế, giáo dục), đừng vin vào cơ chế thị trường để biện bạch cho việc Nhà nước làm không tốt việc của mình.

Để cơ chế thị trường vận hành đúng quy luật thị trường đối với than, ông TKV muốn định giá nào thì định (các ông độc quyền cũng hay lạm dụng từ thị trường lắm đấy).

May là Nhà nước Việt Nam chưa hoàn toàn nghe theo ý của ông quan chức nói trên và để họ làm như vậy.

Cho nên cách “giải mã lạm phát” của quan chức cao cấp đó của một uỷ ban quan trọng của Quốc hội nêu ở đầu bài (nếu thông tin được khẳng định là đúng) liên quan đến giá than và giá điện là hết sức sai lầm.

Khỏi phải bàn về khái niệm lạ kỳ “đầu vào là kinh tế thị trường” và “đầu ra là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Tôi hy vọng báo đưa không chính xác lời ông nói.

Nguyễn Quang A
Theo Tiền Phong

Chống lạm phát tận gốc cần xem lại nội lực quốc gia

Ông Trần Sĩ Chương cho rằng, để chống lạm phát tận gốc cần phải xem lại nội lực quốc gia. Trong đó gồm 2 vấn đề cốt tử là cán cân thương mại và hiệu quả đầu tư trong nước.

LTS: Xung quanh các cảnh báo về nguy cơ lạm phát trong năm 2010 đang được xã hội quan tâm, để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu thêm góc nhìn của ông Trần Sĩ Chương, chuyên viên kinh tế, tài chính.

Gốc của lạm phát và chống lạm phát ở ngay chính trong ta

Lạm phát là vấn đề luôn luôn rình rập tấn công bất cứ nền kinh tế nào thiếu kỷ luật trong điều tiết vĩ mô và chính sách công. Nếu lạm phát xuất phát từ bên ngoài thì rõ ràng mình bị động, chỉ có cách phản ứng như thế nào để ít bị ảnh hưởng nhất. Chúng ta không chủ động được giá dầu, lương thực… của thế giới khi kinh tế thế giới đi vào giai đoạn phục hồi. Nhưng chúng ta phải biết cách chọn lựa khôn ngoan nên nhập cái gì, nhập bao nhiêu là vừa, là phù hợp với khả năng phát triển của nền kinh tế và phải làm sao sử dụng những món hàng nhập khẩu đó tinh tế hơn, hiệu quả hơn.

Thể trạng nền kinh tế quốc gia cũng giống như cuộc sống trong một gia đình. Khi giá cả ngoài chợ tăng thì người nội trợ phải biết gói ghém đi chợ như thế nào để phù hợp với điều kiện ngân sách của gia đình. Nếu biết tiêu pha chừng mực thì gia đình đủ ăn, sinh hoạt khôngbị ảnh hưởng nhiều, còn nếu tiêu vượt quá khả năng thì dẫn tới nguy cơ phải vay mượn với lãi suất cao, đồng tiền mất giá, áp lực lạm phát là không tránh khỏi. Nói như vậy để thấy, cái gốc của vấn đề lạm phát, cũng như giải pháp phòng chống thế nào là ở ngay chính trong ta.

Ảnh minh họa: vnn.vn

Giải quyết những hệ quả để lại từ giai đoạn trước

Trong hoàn cảnh hiện tại, cần phải giải quyết hai vấn đề gốc là cân bằng cán cân thương mại và nâng cao hiệu quả đầu tư. Cụ thể:

Thứ nhất, con số nhập siêu của chúng ta đang rất lớn. Nhập siêu nếu có mục tiêu chiến lược để đầu tư thông minh cho tương lai trong một chừng mực và giai đoạn nhất định thì chấp nhập được. Nếu không thì về lâu dài không ai muốn cho mình vay mượn nữa, nếu có thì phải trả lãi suất cao. Khi lâm vào tình hình đó, sẽ dẫn tới nguy cơ đồng nội tệ sẽ mất giá, áp lực lạm phát tăng.

Ngay tại thời điểm này, thật sự Việt Nam đang xuất siêu với toàn thế giới, trừ Trung Quốc. Cụ thể ta đang xuất siêu với thế giới khoảng 3 tỷ đô la, trong khi nhập siêu từ Trung Quốc khoảng chừng 15-16 tỷ đô la. Bởi vậy mới có chuyện nhập siêu trên 12 tỷ.

Gần đây báo chí nói nhiều rằng tại sao phải nhập từ Trung Quốc kể cả những thứ Việt Nam đang ê hề, như rau củ quả…. những món hàng mình có thể sản xuất được. Như vậy phải xem lại chuyện kiểm soát cơ chế và chuyện chọn lựa để thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc. Chúng ta cần phải tích cực hơn để giải quyết vấn đề nhập siêu, đặc biệt là nguồn nhập hơn 15 tỷ đô/năm từ Trung Quốc.

Thứ hai, hiệu quả đầu tư gắn liền với sức khỏe nền kinh tế, đó là nội lực quốc gia. Việt Nam hiện nay đang phải đầu tư đến 7% GDP chỉ để có được 1% tăng trưởng. Con số đó quá cao, cái giá quá đắt. Mà nguyên nhân có lẽ là trong 10 năm đầu đổi mới (thập niên 90) hiệu quả đầu tư khá cao đã làm cho mình ngộ nhận là cứ làm như thế là được rồi. Ở giai đoạn đó, lúc khởi điểm cơ thể còn ốm yếu, đầu tư cái gì cũng có thể giúp thể lực tăng trưởng tốt hơn, hiệu quả thấy ngay và tương đối cao. Nhưng khi đã đạt đến một cân lượng tối thiểu thì phải có một chế độ dinh dưỡng khác chứ không thể ăn bừa như lúc ốm đói được. Nếu ăn tạp sẽ dẫn tới nguy cơ béo phì. Mà béo phì thì khiến cơ thể trì trệ, chậm chạp, tim mạch bi tắc nghẽn…. Và đương nhiên với thể trạng đó sẽ khiến hiệu suất công việc giảm đi.

Như vâỵ, trong từng giai đoạn phát triển, cần phải có chính sách đầu tư phù hợp. Có lẽ mình vẫn quen cái nếp của hồi đầu đổi mới, thành thử hiện nay vẫn chưa có nếp kỷ luật tuân thủ những quy tắc chất lượng chuẩn trong vấn đề nhập khẩu – từ hàng hoá đến đầu tư tiền của.

Xem ra, hoàn cảnh bây giờ là hệ quả của nhiều giai đoạn trong quá khứ. Lạm phát không phải là vấn đề xảy ra chỉ trong một đêm. Thành thử rất cần phải xiết lại kỷ luật đầu tư để biết mình nên làm gì, nhập gì, xuất gì, đầu tư trong nước thì đầu tư cái gì, ở đâu, với ai, ra sao. Có như vậy thì chỉ số ICOR mới có thể thấp xuống, nền kinh tế mới ổn định theo kiểu đầu tư ít, tăng trưởng cao. Nếu không, với chỉ số ICOR như hiện nay thì cho dù có đầu tư cái gì cũng dễ làm tăng áp lực lạm phát. Mà nếu xiết chặt tín dụng, giảm đầu tư thì bị suy thoái. Cũng giống như cơ thể khi đã béo phì thì ăn thêm một chút gì cũng dễ bị lên cân nhanh, huyết áp tăng, nguy cơ đột quỵ cao. Nhưng không ăn thì lại không có sức mà làm. Đó là vòng luẩn quẩn của ta hiện nay.

Vấn đề báo chí đang bàn tán phần lớn vẫn là các giải pháp tình thế – “ngăn chặn”, “kiểm soát” giá cả bằng các phương tiện chính sách, giảm đầu tư… Mà biện pháp tình thế chỉ nên áp dụng trong những tình thế đột biến, không bình thường. Chúng ta cũng không nên kỳ vọng những biện pháp này sẽ giải quyết dứt điểm nguy cơ lạm phát đang tiềm ẩn trong cơ thể kinh tế. Đã đến lúc phải trị bệnh lạm phát dứt điểm từ gốc vấn đề nhập siêu và hiệu suất đầu tư thấp.

Những chuyện này chúng ta đều biết và đã bàn nhiều rồi, cũng như Thủ tướng đã yêu cầu trong dịp đầu năm, giờ không còn thời gian chần chừ nữa, chúng ta phải quyết liệt, quyết liệt hơn nữa để giải quyết tận gốc những vấn đề này, nếu không dù có lết được qua năm 2010 (một năm rất căng) thì một ngày rất gần, bạo bệnh lạm phát cũng sẽ đến và nguy kịch hơn.

Trần Sĩ Chương
Theo Tuần Việt Nam

Hạn chế tối đa lạm phát

Theo chinhphu.vn ngày 27-2, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai một số biện pháp nhằm hạn chế tối đa những yếu tố phát sinh lạm phát trong năm 2010.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, các biện pháp cần tập trung vào những yếu tố tác động từ việc lợi dụng sự điều chỉnh giá của nhà nước để đẩy giá các loại hàng hóa tăng cao, gây tâm lý bất lợi trong xã hội.

Theo đó, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng ngay trong tháng 3 phải chủ động rà soát, cân đối cung-cầu các loại hàng hóa thiết yếu như gạo, xăng dầu, phân bón, xi măng, sắt thép…; chủ động can thiệp thị trường, hoặc trình cấp có thẩm quyền các giải pháp ứng phó trong trường hợp cần thiết để bảo đảm không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa gây tăng giá đột biến. Chủ tịch UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương phải tiếp tục triển khai các biện pháp bảo đảm nguồn hàng hóa tiêu dùng thiết yếu; tăng cường chỉ đạo các lực lượng chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về quản lý giá cả.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động triển khai các biện pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng, điều hành tốt chính sách tiền tệ, bảo đảm kiềm chế lạm phát cao.

TX
Theo Pháp Luật

Filed under: Kinh Tế-Đời Sống, , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: