CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

LO NGẠI LẠM PHÁT Ở VN NĂM 2010

Lạm Phát và Ảnh Hưởng Lạm Phát

Trong khoảng thời gian gần đây, nỗi lo lạm phát đang được quan tâm nhiều khi hàng loạt chuyên gia cùng các phương tiện truyền thông nêu lên nỗi quan ngại sự trở lại của lạm phát ảnh hưởng đến nền kinh tế.

Chỉ số tiêu dùng – CPI

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI- Consumer Price Index ) là một chỉ tiêu thống kê tính theo phần trăm phản ảnh xu hướng và mức độ biến động tương đối về giá cả chung của một số lượng cố định các loại hàng hoá dịch vụ (được gọi là “rổ” hàng hoá). Những loại hàng hóa này đã được chọn đại diện cho tiêu dùng, phục vụ đời sống bình thường của người dân qua thời gian.

Hiện tại ở Việt Nam, chỉ số này được tính dựa trên 11 nhóm hàng hoá, dịch vụ gồm 572 mặt hàng, tăng 78 mặt hàng so với rổ hàng hóa kỳ trước (2005-2009). Đây cũng đã loại bớt những mặt hàng không còn phổ biến và thêm vào những mặt hàng đã trở nên phổ biến tiêu dùng hơn.

Quyền số dùng để tính CPI thời kỳ 2009-2014 cũng có sự thay đổi so với thời kỳ 2005-2009. Nhóm giảm duy nhất là hàng ăn và dịch vụ ăn uống, 2,92 điểm %. Trong đó, lương thực giảm 1,68 điểm %; thực phẩm giảm 0,85 điểm %; và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,4 điểm %.

Việc nhóm lương thực thực phẩm bị hạ tỉ trọng giúp cho cách tích CPI thực hơn. Cho đến nay, CPI đã qua ba lần được cập nhật, vào các năm 2001, 2006 và 2009.

Lạm phát là sự tăng giá liên tục của các loại hàng hoá trong nền kinh tế, thông thường được đo lường bằng hai chỉ tiêu cơ bản là chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ số khử lạm phát GDP (GDP deflator).

Kế hoạch tăng giá than kéo theo giá điện tăng đang gây lo ngại sự tăng giá đồng loạt của các hàng hoá phụ thuộc. Trên thế giới, giá dầu đang ở mức cao cũng gây lo ngại về những tháng CPI tăng cao đầu năm 2010.

Việc tăng trưởng tín dụng 2009 lên tới 37.7% cũng gây lo ngại lạm phát là một nguy cơ lớn. Vì thông thường, đi sau độ trễ 5-7 tháng sau khi tăng trưởng cung tiền cao sẽ là lạm phát đi kèm. Và nếu đúng như quy luật, thì CPI sẽ tăng cao nhất vào quý 2 năm 2010 .

Liệu rằng lạm phát có thực sự diễn ra mạnh và đáng lo ngại trong thời gian tới hay không, đó còn là một câu hỏi đang gây đau đầu cho giới đầu tư và là vấn đề cần được quản lý cũng như kiểm soát chặt chẽ và linh động từ các cấp quản lý.

Vừa đây, ngân hàng HSBC ra bản báo cáo cảnh báo rủi ro lạm phát ở châu Á và Việt Nam. Theo đó, HSBC đã cảnh báo về các vấn đề thâm hụt thương mại và lạm phát, đồng thời cho rằng, Chính phủ Việt Nam cần nhanh chóng thực hiện việc thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa.

Báo cáo nhận định, thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng GDP không mạnh như trước đây đã và đang gây áp lực lên tỷ giá đồng VND. Các nhà phân tích của HSBC dự báo, thâm hụt thương mại của Việt Nam trong quý 1/2010 sẽ lên tới 30,3% GDP, từ mức 18,6% GDP trong quý 4/2009, trước khi giảm dần về mức  14,8% vào quý 4/2010.

Với sự gia tăng của giá nguyên liệu đầu vào và giá năng lượng, thực phẩm, báo cáo cho rằng, tốc độ lạm phát của Việt Nam sẽ trở lại mức hai con số vào quý 2 năm nay, thậm chí là sớm hơn. Một nguồn rủi ro lạm phát nữa, theo HSBC, là tốc độ tăng trưởng tín dụng lên tới gần 40% của năm 2009.

Lạm phát năm 2009 được công bố chính thức là 6.88% và thấp hơn mục tiêu 7%.

Nguyên nhân tiền tệ

Chỉ tính đến tháng 10 trong năm 2009, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã 33,29%, vượt qua mục tiêu kiểm soát cả năm của Ngân hàng Nhà nước.

Điểm đáng chú ý là theo báo cáo hoạt động ngành ngân hàng chín tháng đầu năm, cũng của Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng mới chỉ ở mức 28%, tương đương khoảng 3% mỗi tháng. Nhưng chỉ riêng trong tháng 10, tốc độ tăng trưởng đã đạt tới 5,33%
Tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng trong năm 2009

Cho đến thời điểm cuối năm, việc cung ứng tiền thông qua chương trình hỗ trợ lãi suất khá cao, trên 400 nghìn tỷ được xem là nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng trưởng cung tiền cũng như tăng trưởng tín dụng vượt xa mục tiêu.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc nới lỏng chính sách tiền tệ, nhất là thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất trong năm 2009, khiến cho tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng đang ở mức cao, ảnh hưởng đến việc kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất trên thị trường và tình hình có thể diễn biến phức tạp, và kéo dài sang năm 2010 do độ trễ của tác động chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, liệu việc tăng cung tiền mạnh có dẫn trực tiếp đến lạm phát cao?

Một số chuyên gia nhận định nếu có can thiệp để bảo đảm thanh khoản trong thời điểm cuối năm thì tác động lên lạm phát cũng không nhiều. Khả năng tái lạm phát trong năm 2010 khó xảy ra. Năm 2009, tăng tín dụng “nóng” chỉ là hệ quả tất nhiên để đáp ứng nhu cầu vận hành bình thường của nền kinh tế.

Quan điểm của NHNN là trong năm 2010 sẽ giảm lượng cung tiền hơn năm 2009 với mức tăng trưởng tín dụng dự kiến chỉ 25%.

Do chi phí đẩy

Từ khoảng giữa năm 2008, giá cả nhiều hàng hoá và năng lượng giảm mạnh khiến cho lạm phát cũng bắt đầu chững lại và tăng trưởng âm vào ba tháng cuối năm. Vì khủng hoảng kinh tế, hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng. Sỡ dĩ hiện nay các loại hàng hoá chưa tăng mạnh trở lại là do nền kinh tế thế giới chưa thật sự phục hồi. Và khi phục hồi thì nền kinh tế các nước đối mặt nguy cơ lạm phát là khó tránh khỏi.

Hiện nay trong nước, việc Tập đoàn Than Khoáng Sản rục rịch tăng giá than kéo theo giá điện tăng có thể gây ra một cú sốc giá mới đối với nền kinh tế. Trong khi đó, nhiều mặt hàng nhập khẩu cũng đang tăng giá mạnh. Ngoài ra, sự biến động tỷ giá cũng làm cho việc dự báo lạm phát trở nên khó lường.

CPI tăng dần

Kể từ tháng 8 năm 2009, tốc độ gia tăng chỉ số CPI so với cùng kỳ năm trước có xu hướng tăng lên. Sự gia tăng này có thể lý giải do giá dầu thế giới tăng khiến cho giá nhiên liệu trong nước cũng tăng cao, cộng với sự gia tăng mùa vụ của giá lương thực và thực phẩm.

Chỉ số CPI tháng 1 năm 2010 cũng đã được Tổng cục thống kê công bố. Theo đó CPI tháng 1 năm 2010 tăng 1,36% so với tháng 12 năm 2009 và tăng 7,62% so với cùng kỳ năm 2009. Đây là tháng đầu tiên áp dụng cách tính CPI mới.

Việc các mặt hàng cận Tết tăng cao, nhất là hàng ăn và các dịch vụ ăn uống khiến cho CPI tháng 1 tăng lên. Để tránh tình trạng giá cả tăng mạnh và bình ổn thị trường trong nước trước Tết, Nhà Nước đã đưa nhiều mặt hàng vào diện kiểm soát giá cả, đồng thời các chính sách bình ổn giá, hỗ trợ doanh nghiệp thu mua, dự trữ hàng tết đã được triển khai nên không lo thiếu hàng, tăng giá. Tuy nhiên, sau Tết thì các chi phí điện và năng lượng tăng lên sẽ khiến giới chuyên gia không khỏi lo ngại.

Các chính sách có khả năng được áp dụng cho việc kiềm chế lạm phát

Việc tăng trưởng nóng lượng cung tiền và tín dụng tạo ra một nguy cơ lạm phát cao. Nhiều bài nhận định và báo cáo lạm phát tại Việt Nam năm 2010 có thể lên 8% và kéo theo các hậu quả của nó. Vì lý do này, NHNN vừa qua đã thực hiện các biện pháp kiểm soát và siết chặt tín dụng cuối năm 2009 và đầu 2010 có thể xem là hành động quyết liệt nhằm đạt được mục tiêu bình ổn vĩ mô 2010.

Việc tăng lãi suất cơ bản lên 8%, nâng lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn lên 7%, đồng thời áp dụng trần lãi suất cho vay, hạn chế tín dụng ở một số lĩnh vực không trực tiếp sản xuất hàng hoá cho xã hội, hạn chế cung tiền thông qua chiết khấu các giấy tờ có giá thể hiện cho mục tiêu đó. Nhưng, đi kèm với nó là sự xuất hiện của tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Sự mất cân đối trong trong nhu cầu vay của doanh nghiệp và huy động vốn của ngân hàng khiến cho việc căng thẳng này càng thêm trầm trọng.

Việc hạ tỉ lệ dự trữ ngoại tệ khiến cho ngân hàng có thế bán USD, giải quyết áp lực tỉ giá và chênh lệch từ thị trường chợ đen, đồng thời hút một lượng tiền đồng về giải quyết phần nào áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Để giải quyết, có lẽ NHNN cần phải nới rộng trần lãi suất huy động hoặc tăng lãi suất cơ bản để có thể đưa cung cầu về tín dụng trên thị trường về mức cân bằng hơn. Hiện tại, NHNN cũng hạn chế mức tăng trưởng tín dụng mục tiêu 25% cho năm 2010.

Đã có một số ý kiến cho rằng nên bỏ lãi suất cơ bản, vì hiện tại nó đang mất dần đi tác dụng. Hiện tại, lãi suất cơ bản chỉ sử dụng như lãi suất hướng dẫn của NHNN, áp dụng cho Ngân hàng Thương mại không có nhiều ý nghĩa và gần như không còn tác dụng đối với thị trường tài chính tiền tệ khi áp lực cung cầu có ý nghĩa quyết định, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng tạo ra sự điều tiết cho thị trường.

Nhìn tổng quan, năm 2010 là năm bản lề cho kế hoạch năm năm tiếp theo và là năm cuối của kế hoạch 2006-2010. Việc ổn định vĩ mô là cần thiết với ekip chính phủ hiện nay. Kiểm soát lạm phát, bình ổn thị trường, hạn chế tín dụng, linh hoạt tỉ giá và tăng trưởng khá đang là mục tiêu của năm 2010.

Elbi
©Tạp Chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC

Tải TCPT31:

Bản PDF – HD
Bản PDF – Standard
Bản PDF – Mini Đọc tiếp »

Lo Ngại Lạm Phát Ở VN Năm 2010

Một số chuyên gia và kinh tế gia tỏ ý lo ngại là lạm phát ở Việt Nam trong năm 2010 sẽ còn tăng cao, trái với trấn an của chính phủ là sẽ đạt được mục tiêu kiềm chế được lạm phát dưới mức 7%.

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh được báo chí trong nước trích lời tỏ ý lạc quan là “sẽ thực hiện được mục tiêu giữ chỉ số tăng giá tiêu dùng năm 2010 không quá 7% như chỉ tiêu Quốc hội đã phê duyệt”.

Tuy nhiên, giá cả một số mặt hàng thiết yếu đã tăng cao trong thời gian vừa qua, khiến nhiều người lo ngại.

Ngay đầu năm mới Canh Dần, giá bán lẻ xăng tại hệ thống của Tổng công ty Xăng dầu Petrolimex đồng loạt tăng gần 600 VND/lít.

Khi được hỏi về vấn đề này, kinh tế gia Lê Đăng Doanh từ Hà Nội nhận xét:

Lê Đăng Doanh: Chính phủ đã đề ra chỉ tiêu và được Quốc hội thông qua, là mức lạm phát năm 2010 này là dưới 7%. Trong khi đó, chính phủ lại đồng thời cho phép nâng giá than. Giá điện sẽ được quyết định tăng vào ngày 1/3 này, bởi vì giá than tăng thì chắc chắn là giá điện sẽ tăng. Giá xăng cũng đột ngột tăng lên vào ngày Chủ Nhật, tức là ngày mồng 8 Tết, 21/2 vừa qua.

Và chúng ta đều biết là tỉ giá đã được điều chỉnh lên. Tỉ giá điều chỉnh lên thì tác động đến tất cả các hàng nhập khẩu của Việt Nam, từ xăng dầu đến sợi đến phôi thép cho đến tất cả các mặt hàng khác.

Năm nay cũng dự kiến sẽ tăng lương, và bãi bỏ các biện pháp miễn giảm thuế của năm 2009, tức là thuế sẽ lại được thu và thậm chí là dự kiến thuế tài nguyên sẽ còn tăng lên nữa. Điều này cũng hợp l‎ý thôi, chỉ có điều là đánh vào mức độ như thế nào để cho nền kinh tế có thể chịu đựng được.

Trong bối cảnh như vậy, tôi chia sẻ sự lo ngại về việc lạm phát có thể tăng hơn mức 7% mà chính phủ đề ra.

Ông Bộ trưởng Tài chính, trong một bài phỏng vấn với Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã tỏ ra lạc quan, và cho rằng các yếu tố đầu vào đó sẽ không có tác động gì – theo nguyên văn lời ông ấy là “tăng không đáng kể”. Tôi không hiểu là lập luận của ông ấy như thế nào, chứ hiện nay các bà nội trợ đi chợ hàng ngày đều đã biết mức độ giá tăng ra sao.

Và các doanh nghiệp mà tôi có dịp gặp qua dịp Tết rất lo ngại về việc tăng giá than, giá điện, giá nước, rồi tỉ giá lên…

BBC:Theo ông, trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, trước những diễn biến như ông vừa nêu ra, thì chính phủ cần có những biện pháp gì để có thể kiểm soát lạm phát?

Lê Đăng Doanh: Theo tôi thì điều rất quan trọng là phải có những đòn bẩy để nâng cao hiệu quả, cắt giảm chi phí và tránh cái việc là tăng giá lên quá nhiều mặt hàng đầu vào, bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến giá thành.

Thứ hai nữa là cần phải xem xét việc điều chỉnh tỉ giá hai lần liên tục trong vòng ba tháng vừa qua, nó cũng sẽ tác động đến giá cả như thế nào trước khi có các biện pháp tăng giá tới.

Tôi thì được thông báo là ngày 1/3, điện sẽ tăng giá, và Bộ Tài chính đã có đề nghị mức tăng giá cao. Tôi hi vọng là chính phủ sẽ xem xét một cách thận trọng trong bối cảnh là giá hiện nay đã tăng rồi sau dịp Tết, và nếu như tăng giá điện nữa thì điều đấy sẽ lại làm cho mặt bằng giá tăng lên nữa.

BBC:Theo cá nhân ông dự đoán thì lạm phát năm nay ở VN ở khoảng mức bao nhiêu?

Kinh tế gia Lê Đăng Doanh

Ông Doanh cho rằng chính phủ phải có những đòn bẩy hiệu quả để xử lý tình trạng lạm phát

Lê Đăng Doanh: Tôi hiện nay chưa có căn cứ, bởi có mấy điểm như thế này: Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã nâng dự báo về giá dầu thô, từ 76 đô-la/thùng lên 78.5 đô-la/thùng trong năm 2010.

Vừa qua thì giá dầu thô cũng đã tăng. Nếu giá dầu thô tăng lên thì không phải chỉ có xăng dầu tăng, mà còn phân bón, thuốc trừ sâu rồi sợi tổng hợp… Tất cả các đầu vào sẽ tăng lên.

Điểm thứ hai, tác động đến mức độ tăng giá của Việt Nam là chính sách tín dụng. Năm 2009, tín dụng dự kiến chỉ tăng có 25%, nhưng trong thực tế đã tăng lên 38% – để đạt được mức tăng trưởng kinh tế là 5.32%.

Như vậy, cứ phải tăng 7% tín dụng thì mới đạt được 1% tăng trưởng GDP. Trong năm 2010, chính phủ muốn đạt được mức tăng trưởng GDP là 6.5%, nhưng dự kiến là mức tín dụng lại chỉ tăng 25% như kế hoạch của năm 2009. Mà thực tế, 2009 đã không thực hiện được.

Việc cắt giảm tín dụng một cách rất đột ngột vào cuối năm 2009 đã dẫn đến việc khan hiếm thanh khoản một cách đáng lo ngại của các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp. Và hiện nay nó đang lan ra trong nền kinh tế.

Cần phải có sự nới lỏng chính sách tiền tệ và tín dụng một cách hiện thực để bảo đảm nền kinh tế hoạt động. Muốn như vậy thì chính sách tiền tệ và tín dụng, sau một độ trễ nhất định, sẽ lại tác động đến mặt bằng giá cả của Việt Nam.

Còn về tỉ giá thì chúng ta đều đã biết chính phủ đã điều chỉnh tỉ giá, để hi vọng giải tỏa được kỳ vọng của người dân vào cái việc găm giữ đôla để có thể có được mức tiền đồng cao hơn sau khi bán ra trong tương lai. Tôi nghĩ đấy là biện pháp cần thiết, tuy cái giá phải trả không phải nhẹ nhàng.

BBC:Xin cám ơn ông.

BBCVietnamese.com

Tăng giá xăng ngay sau Tết – lợi bất cập hại

Nghe Audio – Vào ngày 21 tháng 2 vừa qua, giá xăng dầu đã tăng lên gần 600 đồng một lít. Ngày hôm sau, báo chí trong nước loan tin thủ tướng chính phủ đồng ý trên nguyên tắc sẽ cho tăng giá bán điện theo phương án của Bộ Công Thương vào đầu tháng 3 tới.

Không đúng thời điểm?

photo-1-200
Nhân viên một trạm xăng ở Hà Nội đang bơm xăng cho khách

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Độc lập, IDS nhận định:

Nhiên liệu, giá năng lượng nói chung phải để chuyển động theo cơ chế thị trường thế giới. Đó là chuyện đúng về nguyên tắc và nói chung là tốt chứ không phải xấu. Nhưng vấn đề phải tăng lúc nào, điều chỉnh lúc nào; đó là vấn đề quan trọng.

Trong bối cảnh vừa Tết xong, giá cả các mặt hàng đều tăng lên trong dịp Tết (một chuyện cũng là bình thường), giá xăng tăng lên gần 600 đồng, và rục rịch tăng giá điện với tỷ lệ khá cao thì theo tôi không khôn ngoan. Lẽ ra cho tăng vào những lúc không gây cấn như thời điểm sau Tết vì tâm lý người ta lo ngại lạm phát. Đúng vào lúc mọi người lo ngại như thế lại đẩy tăng giá lên, tức không khác gì ‘đổ dầu vào lửa’.

Lạm phát là một hiện tượng rất phức tạp, trong đó yếu tố tâm lý hết sức quan trọng; bởi vì nếu tất cả mọi người nghĩ sẽ có lạm phát, thì sẽ có lạm phát.

Gia Minh: Theo Tiến sĩ do những bức bách gì mà Tổng Công ty Xăng Dầu, và Bộ Công Thương Việt Nam đưa ra biện pháp vào thời điểm theo Tiến sĩ là ‘không khôn ngoan’ này?

Ts Nguyễn Quang A: Theo tôi nghĩ chẳng có lý do nào xác đáng cả. Tôi theo dõi hằng ngày thị trường xăng dầu thế giới và khu vực suốt mấy tháng nay, thấy có giao động thế nhưng chưa có giao động đột biến. Biện pháp cho tăng giá vào dịp Tết, theo tôi nghĩ, chỉ có thể vì lợi ích cục bộ mà thôi.

Gia Minh: Đưa ra những biện pháp có thể dẫn đến những hậu quả bất lợi cho số đông như thế, không lẽ các nhà điều hành kinh tế xã hội không thấy được sao?

Ts Nguyễn Quang A: Theo tôi có thể có nhiều người thấy; nhưng họ không có tiếng nói quyết định, không có quyền quyết định. Còn những nhóm lợi ích rất hùng mạnh có thể có ảnh hưởng đến những quyết định rất quan trọng. Trong trường hợp thế này, theo tôi là những việc làm ‘rất không khôn ngoan’.

Gia Minh: Những biện pháp như thế có thể dẫn đến những hậu quả cụ thể trước mắt thế nào?

photo-2-250
Ông Bùi Ngọc Bảo, TGĐ Tổng công ty xăng dầu VN. Photo courtesy of petrolimex.com.vn

Ts Nguyễn Quang A: Chính phủ Việt Nam nhìn ra một mối nguy cơ rất lớn và đặt ưu tiên hàng đầu của năm nay : ‘ổn định kinh tế vĩ mô và chống lạm phát’. Đã có những biện pháp chính sách được thực hiện theo hướng đó. Theo tôi như thế tốt; tuy nhiên có những chính sách, hành động, phản ứng không được tính toán kỹ lắm.

Nếu tính toán như thế, bản thân các cơ quan Nhà Nước sẽ làm khó cho chính họ, và nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát của họ sẽ gặp khó khăn hơn. Tôi không phải người trong cuộc nên không hiểu những chính sách như thế được bàn luận ra sao.

Gia Minh: Mới đây đồng bạc Việt Nam được phá giá thêm 3,4%, và những biện pháp đó có ảnh hưởng đến giới sản xuất ra sao?

Ts Nguyễn Quang A: Cũng tương tự giá năng lượng, việc điều chỉnh tỷ giá Việt Nam lẽ ra phải được làm trước đó một thời gian khá dài: ba-bốn-năm tháng chẳng hạn. Vào thời điểm thuận lợi sẽ không gây ra những tác dụng phụ. Theo tôi việc điều chỉnh tỷ giá đồng bạc Việt Nam cũng đúng hướng nhưng không đúng thời điểm. Nói chung yêu cầu các nhà hoạch định chính sách làm gì cũng đúng, cũng hợp thời điểm hơi khó.

Theo cơ chế thị trường

Gia Minh: Mức độ tương thích giữa chính sách điều hành chung và vận hành theo cơ chế thị trường đến đâu?

Ts Nguyễn Quang A: Không thể tách rời lịch sử phát triển của Việt Nam, đất nước phát triển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hoàn toàn do Nhà Nước điều chỉnh hết. Bước dần dần sang cơ chế thị trường, trong hơn 20 năm qua, về cơ bản toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đã vận hành theo cơ chế thị trường. Vẫn còn có can thiệp của Nhà Nước ở một số điểm nhưng phần đó không quá nhiều; tuy một số can thiệp của Nhà Nước vẫn còn quan trọng tại Việt Nam.

Xét trong quá trình như thế, chứ còn so với Hoa Kỳ, Tây Âu, Hồng Kông, Singapore chẳng hạn, còn hơi khó. Không thể một sớm một chiều thiết lập ngay được cơ chế như vậy, vì rất phức tạp từ tập quán làm ăn đến thực thi luật lệ. Cần có thời gian để tương thích dần, càng ngày càng phù hợp hơn.

Gia Minh: Có thể rút ngắn thời gian và loại trừ mâu thuẫn bằng cách nào?

Ts Nguyễn Quang A: Đó là vấn đề khác. Nếu chính phủ khôn ngoan, có chính sách khéo, biết tận dụng tất cả những cơ hội, quá trình đó có thể rút ngắn lại. Có thể đẩy nhanh hơn, hoạt động của cơ chế thị trường hữu hiệu hơn. Từ đó có thể mang lại phát triển cho đất nước, sung túc cho người dân.

Người ta luôn nói như thế và trong mấy năm qua, không thể phủ nhận việc làm theo hướng đó, nhưng còn nhiều việc chưa như mong muốn như chuyện vừa bàn đến.

Gia Minh: Cám ơn Tiến sĩ về những ý kiến và nhận định về những biện pháp đưa ra hiện nay ở Việt Nam.

Gia Minh
RFA


Giá cả tăng trong dịp đầu năm tại Việt Nam có nguy cơ thúc đẩy lạm phát

Ảnh chụp tại một ngân hàng Hà Nội, tháng 11 năm 2009(Ảnh : Reuters)

Ảnh chụp tại một ngân hàng Hà Nội, tháng 11 năm 2009
(Ảnh : Reuters)

Nghe cuộc phỏng vấn Lê Đăng Doanh từ Hà Nội

Việt Nam đề ra mục tiêu kiềm chế lạm phát trong năm 2010 là dưới 7%. Đây là một thách thức lớn đối với chính phủ vì trong hai tháng qua, giá cả nhiều mặt hàng đều tăng.
Anh Vũ
Theo RFI

Rủi Ro Lạm Phát Rất Đáng Lo

Dự báo lạm phát Việt Nam năm 2010 không đơn thuần nằm ở chính sách tiền tệ và những yếu tố khách quan.

LTS: Gần đây đang có các ý kiến nhiều chiều quanh dự báo lạm phát của năm 2010. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn của một số chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách quanh vấn đề này. Sau đây là quan điểm riêng của GS. TS Trần Ngọc Thơ.

Lạm phát Việt Nam có nguồn gốc từ chiến lược tăng trưởng chạy theo số lượng bắt đầu từ những năm 2000 đến 2008. Đỉnh điểm đến vào năm 2008 với lạm phát 28%. Nói đến dự báo lạm phát năm 2010, phải đặt nó trong mối nhân quả giai đoạn 2000-2008 mới thấy hết những rủi ro khôn lường.

Rất may cho Việt Nam là những sai lầm trong chiến lược tăng trưởng méo mó và do đó dẫn đến lạm phát phi mã của thập niên đã tạm thời được che đậy bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sang năm 2010, khi kinh tế toàn cầu phục hồi rõ hơn, lạm phát có “quán tính” từ thập niên trước sẽ chuyển dần sang những năm sau đó – trừ phi ta có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong thể chế.

Nhiều chuyên gia nói rằng các biện pháp chống lạm phát thì đã có đầy trong các kho sách giáo khoa thế giới, chỉ cần có quyết tâm thì ta sẽ kiểm soát được lạm phát? E rằng nhận định này có thể không đúng ở nước ta.

Khác với hầu hết các nước, lạm phát có thể được NHTW đánh đổi bằng mục tiêu tăng trưởng. Nhưng đối với Việt Nam, ngay cả khi chính phủ cũng nhượng bộ phần nào với mục tiêu không đạt được tăng trưởng bằng mọi giá – để kiềm chế lạm phát – thì vẫn còn đó nhiều khả năng để lạm phát có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của chính phủ.

Trước hết, nói thẳng ra là những hậu quả của các chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2000-2008. Chính phủ phải xử lý thế nào với hàng loạt công trình dở dang ngổn ngang ở các tỉnh, thành, bộ ngành, các DNNN và tập đoàn kinh tế? Nếu không tiếp tục bơm tiền để hoàn thành, liệu có ảnh hưởng gì đến uy tín của lãnh đạo các đơn vị này khi mà mùa đánh giá và đề bạt cán bộ năm nay sẽ ở mức cao trào? Đây là hệ quả mà những thời kỳ trước cũng chính phủ hiện nay đang phải gánh chịu và tìm cách khắc phục.

Ảnh minh họa: saga.com

Sức ép thể chế có thể sẽ đánh bại những nỗ lực của NHNN trong kiểm soát lạm phát. Anh đã lỡ hứa xây cây cầu, trạm xá… rồi, nay lại sắp tới mùa thi đua hoàn thành vượt mức và thi đua hoàn thành trước thời hạn. Thôi thì, không ngân sách bơm vốn ra thì cũng bằng cách nào đó ngân hàng thương mại nhà nước cũng hỗ trợ.

Mà đó cũng chỉ là một trong nhiều ví dụ về cái gọi là “đặc thù” riêng có của Việt Nam. Cộng tất cả những đặc thù đó lại, kiểm soát lạm phát ở Việt Nam khó hơn nhiều so với mọi người tưởng.

Đó là chưa kể những tác động mặt trái và độ trễ của gói kích cầu năm 2009 sẽ phát huy tác dụng và ngấm vào năm 2010. Rõ nhất là tỷ giá đã tăng liên tục trong nhiều tháng qua và vẫn còn có thể tăng tiếp nữa. Tôi tin chắc rằng biến số tỷ giá tăng mạnh này đã không nằm trong tính toán của các nhà hoạch định chính sách. Không khó để nhìn ra rằng đồng Việt Nam hiện vẫn còn định giá khá cao so với mức cân bằng (của tỷ giá thực) và khả năng tăng tỷ giá trong thời gian tới hầu như là điều khó tránh khỏi, bất chấp những tuyên bố “ổn định” chắc như đinh đóng cột của các nhà làm chính sách.

Xem lại bài phát biểu “Hai kịch bản tăng trưởng và lạm phát năm 2010” của Thống đốc NHNN tại hội thảo “Vai trò chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ suy giảm” vào thời điểm gần cuối năm 2009, ta thấy Thống đốc có nêu ra rất nhiều các biến số tác động đến lạm phát và tăng trưởng như hệ số ICOR, tổng phương tiện thanh toán, giá dầu… nhưng tuyệt nhiên không thấy tác động của yếu tố tỷ giá đối với CPI (tỷ giá tăng làm cho giá nhập khẩu tăng và do đó kéo theo mặt bằng giá trong nước tăng lên). Nếu để ý, ta thấy vào thời điểm này, vị lãnh đạo ngành ngân hàng vẫn kiên quyết bảo vệ quan điểm không tăng mạnh tỷ giá vì e ngại tác động đến việc trả nợ nước ngoài.

Trong hai kịch bản này, thì lạm phát nằm trong khoảng thấp nhất và cao nhất là 7,5% – 10%. Nếu ta tạm thời dựa vào mô hình tính toán của một trong những cơ quan quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu của Việt Nam và vẫn chưa có yếu tố tác động của tăng mạnh tỷ giá thì lạm phát đã đáng lo ngại lắm rồi.

Và ắt hẳn mô hình dự báo lạm phát của NHNN đã chưa tính hết tới những phản ứng thái quá của các tập đoàn nhà nước từ hiệu ứng tăng giá xăng, giá điện… khá khó hiểu và có thể là ngoài tầm kiểm soát của những nhà làm chính sách khi dự báo về lạm phát 2010.

Nói tóm lại, dự báo lạm phát Việt Nam năm 2010 không đơn thuần nằm ở chính sách tiền tệ và những yếu tố khách quan (như giá dầu thế giới…) mà còn nằm ở (1) tàn dư của những năm tăng trưởng và kích cầu trước đây, (2) thể chế, (3) sự mất giá liên tục và không thể tránh khỏi  của tỷ giá đô la/Việt Nam đồng và (4) phản ứng của các DNNN và tập đoàn kinh tế có vì lợi ích chung?

Rõ ràng với nguy cơ đang được cảnh báo, các nhà hoạch định chính sách tài chính tiền tệ Việt Nam phải tính ngay và có giải pháp đi trước một bước để giải quyết vấn đề hệ trọng này.

GS. TS Trần Ngọc Thơ
Theo Tuần Việt Nam

Filed under: Kinh Tế-Đời Sống, ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: