CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG CẢI TỔ LUẬT PHÁP

Hệ thống luật pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, về nhiều mặt, vừa là kết quả mà cũng là phản ứng từ bối cảnh lịch sử đất nước.

Việt Nam cải tổ pháp luật trong khuôn khổ hệ thống một đảng

Lịch sử pháp lý của Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, Pháp, Mỹ và các định chế xã hội chủ nghĩa. Sự chú ý của Tây phương đối với Việt Nam và tình hình pháp luật ở đây chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực: tình hình nhân quyền như một phần của hệ thống pháp lý cùng sự bảo vệ cá nhân, và tình trạng của thị trường và thương mại.

Nhân quyền và điều kiện luật pháp xoay quanh các quyền này ở Việt Nam hôm nay lại gắn chặt với lịch sử Việt Nam nhiều thế kỷ. Nhưng mặt khác, luật thương mại của Việt Nam lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ toàn cầu hóa và sự mở cửa bắt đầu từ cải tổ thập niên 1980.

Trong 2000 năm qua, Việt Nam đã bị Trung Quốc cai trị trong thời gian dài nhưng đã độc lập về chính trị từ thế kỷ 10. Các mô hình chính trị và xã hội Trung Quốc được áp dụng tại đây mà có sự thay đổi vì hoàn cảnh địa lý và văn hóa khác biệt. Trong khoảng 1000 năm tính tới năm 938, khu vực đồng bằng Sông Hồng căn bản là một tỉnh của Trung Quốc. Giai đoạn này để lại dấu ấn lâu dài lên sự sắp xếp luật pháp và trị quốc của Việt Nam. Triết lý và tôn giáo Trung Quốc (Khổng giáo và Đạo giáo) đã thâm nhập vào Việt Nam.

Sau khi giành độc lập, các triều đại Việt Nam nối tiếp nhau cho đến khi bị Pháp đô hộ năm 1884. Hệ thống chính trị, hành chính và xã hội lại tiếp tục dựa trên mô hình Khổng giáo và luật Trung Hoa.

Sự tiếp xúc với văn hóa châu Âu rất hạn chế cho mãi tới giữa thế kỷ 19. Lúc này, sự đấu tranh phe phái trong nước lan rộng. Bộ máy hành chính thuộc địa của Pháp (1862-1954) đã làm giai cấp cai trị truyền thống bị mất uy tín. Họ áp đặt hành chính và luật kiểu Pháp.

Sau cuộc chiến Đông Dương lần Một (1946-1954), Việt Nam giành độc lập sau Hiệp định Geneva. Nhưng sự chia cắt hai miền còn kéo dài cho tới ngày 2 tháng Bảy 1976, với sự thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Những sự kiện này đều đã ảnh hưởng tới hệ thống và các thể chế pháp lý, mà đã là đối tượng cải tổ kể từ chương trình Đổi Mới 1986.

Cải tổ luật pháp

Cùng với việc điều chỉnh hiến pháp, chính phủ Việt Nam năm 1992 đã đưa ra một hệ thống luật hành chính. Những cải cách pháp lý khác trong nửa đầu thập niên 1990 tập trung vào phát triển luật năng lượng, thương mại, đầu tư nước ngoài để giúp Việt Nam hấp dẫn hơn về giao thương.

Năm 2002, Bộ Tư pháp chuẩn bị một kế hoạch tham vọng cho khu vực luật, nhằm chuyển tiếp sang chế độ Pháp quyền. Chương trình Cải cách Hành chính rộng lớn được bắt đầu từ một chính sách năm 1995 và mở rộng năm 2001 trong sự hợp tác với các nhà tài trợ nước ngoài. Kể từ năm 2000, nhiều nỗ lực cải tổ cũng đã được đưa vào để tiếp tục đổi mới thủ tục hành chính, và cải tổ ngành công vụ, thủ tục pháp lý.

Trước khi Việt Nam trở thành thành viên WTO năm 2006, đã có cả một thập niên chuyển hóa các định chế và chính sách để đưa luật trong nước phù hợp với yêu cầu của WTO. Và từ khi gia nhập WTO, Quốc hội đã tham gia tiến trình làm luật để thực thi các cam kết.

Đánh giá

Việt Nam là một trường hợp đáng chú ý về một nhà nước độc đảng, mà có vẻ có khả năng phục vụ nhu cầu và mong chờ của dân chúng ở một mức độ tương đối lớn, khi so sánh với một số nước châu Á có dân chủ đa đảng như Philippines.

Mặc dù không dân chủ, nhưng Việt Nam dường như có khả năng thích ứng mềm dẻo trước tiếng nói của nhân dân, ít nhất chừng nào các tiếng nói đó không bị xem là trực tiếp thách thức Đảng và chính phủ. Cải tổ luật pháp trong những năm gần đây là một ví dụ.

Cải tổ luật hành chính là nhằm một phần đáp ứng sự bất mãn của dân chúng trước tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Những bước đi khác gần đây liên quan luật thương mại cũng là phản ứng trước tiếng nói người dân và mong đợi của khu vực kinh doanh muốn mở cửa thị trường.

Một phần của hệ thống truyền thông, mặc dù không tự do, cũng là kênh thể hiện tiếng nói người dân. Nhưng một số nhóm thiểu số, cũng như các cá nhân ủng hộ cải tổ dân chủ hướng tới đa nguyên đa đảng thì đã bị chính phủ phản ứng. Điều này cho thấy Việt Nam đang dần dần trở nên đa nguyên hơn bên trong hình thái của một nhà nước độc đảng.

Thực phẩm, dịch vụ y tế căn bản, giáo dục và việc làm để nuôi sống bản thân và gia đình là ưu tiên cho người dân Việt. Khi không có truyền thống dân chủ, một chính phủ đem lại những điều này, trong khi cũng bảo đảm phát triển liên tục và có sự phản ứng mềm dẻo trước đòi hỏi thay đổi từ từ, dường như là một chính phủ mà số đông hiện nay muốn có. Từ góc nhìn pháp lý, chúng ta có thể nói rằng một nhà nước cai trị trong sự hạn chế của luật pháp và từ từ cải tổ những hạn chế này trước quan ngại của người dân, và có giải phóng kinh tế tiệm tiến, thì quan trọng hơn là một hệ thống chính thức đa đảng.

Quan hệ của Việt Nam với thế giới bên ngoài thể hiện một mô hình có một chút tương tự. Như nhiều trường hợp khác, con đường Việt Nam đi hơi giống Trung Quốc. Cả hai nước tiến hành cải tổ luật pháp để mở rộng một chính phủ dựa vào pháp luật, chống lạm dụng quyền lực, gia tăng khả năng của công dân kiện quan chức, và giải quyết tranh chấp dựa theo luật pháp trong nhiều lĩnh vực.

Xung đột chính trị với Mỹ và các nước phương Tây đã nhường chỗ cho hợp tác chính trị và kinh tế. Trong những năm sắp tới, sức ép quốc tế buộc Việt Nam tiếp tục hướng đến hệ thống pháp trị và mở cửa kinh tế sẽ không giảm đi. Trên trường quốc tế, một phần cũng từ sức ép tương tự, Trung Quốc đã chủ động tham gia vào hợp tác toàn cầu không chỉ về thương mại mà cũng đáp trả những chỉ trích từ các nước về hợp tác phát triển, nhân quyền và đầu tư quốc tế.

Việt Nam không phải là một mô hình nhỏ hơn của Trung Quốc và xứng đáng được có con đường riêng để phát triển và mở cửa trước xã hội toàn cầu. Chúng ta có thể trông chờ rằng bản sắc văn hóa quốc gia mạnh mẽ của Việt Nam, quyết tâm giữ vững tay lái trong khi vẫn hợp tác với quốc tế để cải cách, rồi sẽ được phản ánh tương tự khi nước này dần dần có chỗ đứng mạnh hơn trên trường quốc tế.

Tiến sĩ Karin Buhmann

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, hiện là Phó giáo sư ở Đại học Copenhagen, Đan Mạch.

Nguồn: BBCVietnamese.com

Filed under: Chính Trị-Xã Hội,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

%d bloggers like this: