CÂU LẠC BỘ NHÀ BÁO TỰ DO

Tôn trọng và bảo vệ sự thật

TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VAN HÓA DÂN TỘC

Phan Hồng Giang, trích từ blog Nguyễn Xuân Diện

Vấn đề bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa là một vấn đề lớn, vừa có ý nghĩa lý luận lâu dài, vừa mang tính thực tiễn cấp bách, đòi hỏi sự lý giải trong một thời gian ít bị câu thúc của các chuyên gia nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi xin phép được nêu lên một số suy nghĩ ban đầu về vấn đề đã nêu, mong được quý độc giả cho ý kiến thêm.
Về bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa không ít khi được hiểu theo nghĩa hẹp: là hiện tượng mang tính nghệ thuật.
Văn hóa nói đến ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực: đạo đức, lối sống, giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa. Chỉ theo nghĩa rộng, văn hóa mới được coi là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội.
Trong văn hóa thì, theo chúng tôi, cái làm nên cốt lõi của nó chính là hệ thống các thang bậc giá trị của toàn xã hội, toàn dân tộc và của mỗi cá nhân đuợc lưu truyền qua nhiều thế hệ tiếp nối. Theo ý nghĩa này thì nói đến bản sắc dân tộc trước tiên phải xác định những giá trị chủ yếu làm nên sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc từ bao đời nay. Đó là: lòng yêu nước sâu xa, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giữ nước, tình tương thân, tương ái, gắn kết cộng đồng gia đình – họ tộc – làng xã; cần cù lao động, chế ngự thiên nhiên, mưu sinh tồn tại; khát khao lẽ phải, sự công bằng xã hội, trọng nghĩa khinh tài, tôn sư trọng đạo; tình yêu văn học nghệ thuật, năng lực sáng tạo nghệ thuật; giàu khả năng thích nghi với biến đổi của hoàn cảnh để không ít khi tiếp nhận được từ bên ngoài những gì là tốt đẹp của thiên hạ…
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có dân tộc Việt Nam mới có những đức tính tốt đẹp trên. (Hàng trăm dân tộc trên thế giới rộng lớn này sở dĩ được gọi là loài người bởi đều có chung tính người biểu hiện giống nhau qua các nhu cầu đó. Coi trọng tính riêng biệt của mỗi dân tộc không có nghĩa là coi nhẹ các giá trị phổ quát chung của toàn nhân loại). Tuy nhiên, khi chúng ta xác định cái làm nên cốt lõi của bản sắc dân tộc là hệ thống các giá trị nêu trên, chúng ta đã nhấn mạnh đến những điều kiện lịch sử, điều kiện thiên nhiên tồn tại một cách đặc thùkhách quan, những điều kiện đã hình thành nên trong tâm thức dân tộc ta qua hàng ngàn năm những giá trị phải chăng là ở một mức độ “đậm đặc” đến mức có thể được gọi là “bản sắc”. Các giá trị vừa nêu được thể hiện qua các lĩnh vực của văn hóa – từ đạo đức lối sống đến văn học nghệ thuật và các sinh hoạt văn hóa. ( Ở đây người viết chưa muốn nói đến những “ngụy giá trị” hoàn toàn không đáng được cổ súy còn tồn tại đầy rẫy trong  tâm thức và hành xử của một bộ phận khá đông các thành viên cộng đồng dân tộc).
Về toàn cầu hóa và tác động của nó đến văn hóa dân tộc. Có thể đồng ý với nhận xét của nhà báo Robert J.Samuelson, khi ông cho rằng: “Toàn cầu hóa là cách gọi mới cho một quá trình cũ” (trong bài của ông viết về toàn cầu hóa đăng trong loạt 8 bài báo với chủ đề Hướng về thế kỷ XXI của tờ The International Herald Tribune, 3-11/1-2000).
Trải mấy ngàn năm qua thế giới đã phát triển chính là bằng con đường mở rộng quan hệ giao lưu về mọi mặt, từ kinh tế đến văn hóa, giữa các nước, các khu vực. “Con đường tơ lụa” xuyên Á qua các núi cao  và thảo nguyên khô cằn, các tuyến hàng hải giữa các nước, các châu lục từ khi có thuyền buồm và la bàn có thể coi là những bằng chứng hiển nhiên đầu tiên  của cái gọi là “quá trình giao lưu quốc tế” trên phạm vi toàn thế giới đó. Từ mấy thế kỷ trước có thể nói Hội An, Phố Hiến… đã là những “thành phố mở cửa” đầu tiên của nước ta…
Tuy nhiên trong một vài thập kỷ trở lại đây rõ ràng đã xuất hiện nhu cầu gọi tiến trình giao lưu quốc tế đó bằng một cái tên mới là “toàn cầu hóa” bởi những biểu hiện mang tính “bùng nổ” của tiến trình này: đó là sự xuất hiện “đại trà” của  các “xa lộ thông tin” trên toàn thế giới, sự mở rộng nhanh chóng của quá trình “tự do hóa thương mại”, sự sáp nhập các công ty quốc gia hùng mạnh trong các lĩnh vực tin học, truyền thông, chế tạo tàu bay, xe hơi…, sự nhất thể hóa về kinh tế – tài chính ở các khu vực v.v… diễn ra trong bối cảnh “hậu chiến tranh lạnh” và sự phát triển như vũ bão của kỹ thuật công nghiệp hiện đại…
Đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, quá trình “toàn cầu hóa” diễn ra thật sự sôi động với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự bùng nổ của các ngành công nghiệp văn hóa.
Toàn cầu hóa đã và đang là một quá trình tất yếu khách quan trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Như mọi hiện tượng đều có hai mặt trái – phải, thuận – nghịch, toàn cầu hóa, theo chữ dùng của tác giả R. J. Samuelson đã nhắc ở trên, là một “thanh gươm hai lưỡi”: “Một mặt nó là cỗ xe có động cơ mạnh làm tăng tốc độ phát triển kinh tế, mở ra kỹ thuật mới làm tăng mức sống ở cả những nước giàu lẫn nước nghèo; mặt khác, nó cũng là một tiến trình đầy tranh cãi tiến công vào chủ quyền quốc gia, làm xói mòn nền văn hóa và truyền thống địa phương, đe dọa sự ổn định kinh tế và xã hội”.
Lĩnh vực văn hóa là lĩnh vực có thể nói là chịu tác động hai mặt dễ nhận thấy của quá trình toàn cầu hóa.
Từ bao đời nay, nền văn hóa nước ta không chỉ là thành quả của hàng ngàn năm chiến đấu giữ nước và lao động sáng tạo dựng nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam mà còn là kết quả của các quá trình hấp thụ tinh hoa của nhiều nền văn hóa, văn minh thế giới.
Trong quá trình toàn cầu hóa, về mặt văn hóa chúng ta cần thấy những thời cơ tốt để mở rộng cửa “đón nắng gió” bốn phương: tăng thêm tính hiện đại của văn hóa (để dứt bỏ những gì là cổ hủ, thủ cựu – hệ quả của một nền sản xuất nhỏ, phân tán), mở rộng và đào sâu thêm giá trị nhân văn – dân chủ – quốc tế của văn hóa (để loại trừ những tàn dư của ý thức hệ phong kiến gia trưởng), tiếp thu tính công nghiệp, tính khoa học, tính kỷ cương trong công việc và sinh hoạt giao tiếp cộng đồng (để dứt khoát chia tay với thói quen sống theo “lệ làng” coi thường “phép nước”, thói rềnh rang,  thù tạc, không biết tiếc thì giờ…), tiếp cận những thành tựu to lớn của công nghệ kỹ thuật mới trên các lĩnh vực truyền thông, truyền hình, in ấn, sản xuất băng đĩa âm thanh và hình ảnh, sản xuất các phương tiện nghe nhìn, đổi mới và đa dạng hóa các loại hình nghệ thuật…
Sức hấp dẫn của những loại hình hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, vui chơi giải trí cũng như lối sống tiện nghi, hiện đại từ các nước phát triển đối với nhiều người dân nước ta, nhất là đối với lớp trẻ, là điều dễ nhận thấy, có thể nói là đã và đang diễn ra phần nào độc lập với ý muốn chủ quan của chúng ta, đặc biệt là của những người đứng tuổi.
Ngoài mặt thuận của quá trình này, điều chúng ta cần quan tâm là mặt nghịch của nó, nhất là khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra đồng thời với tiến trình mở cửa về kinh tế – văn hóa của nước ta, đồng thời với tiến trình chuyển đổi của nền kinh tế nước ta từ kế hoạch hóa – tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Ở đây có thể nói mặt trái của toàn cầu hóa đã có “mảnh đất thích hợp” để nảy nở sinh sôi là mặt trái của cơ chế thị trường tồn tại ở nước ta.
So với các thời kỳ trước đây trong lịch sử nước ta, sức lao động sáng tạo của mỗi con người hiện nay có dịp được phát triển tốt hơn, xã hội nhờ đó trở nên cởi mở, năng động hơn. Nhưng bên cạnh mặt được rất cơ bản đó, cũng có thể nói chưa bao giờ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc lại phải chịu những tác động xói mòn mạnh mẽ, gay gắt như hiện nay. Nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy, mại dâm, buôn lậu, gian lận thương mại v. v… phát triển như các đại dịch thời trung cổ. Chỉ hơn mười năm qua, thời gian chưa đủ để một thế hệ sinh ra và trưởng thành, chúng ta có thể thấy, đặc biệt là ở các thành phố, các thị xã, thị tứ… khá phổ biến một lối sống thực dụng, chạy theo tiện nghi vật chất, tôn thờ đồng tiền, sùng ngoại, coi nhẹ các giá trị lý tưởng, đạo đức của cha ông… Nhiều sinh hoạt văn hóa, từ lễ hội đến biểu diễn nghệ thuật, bị nhuốm đậm đặc sắc màu thương mại hóa. Các loại hình nghệ thuật ca nhạc phương Tây ngày càng có nhiều thanh niên hâm mộ tôn sùng, trong khi các loại hình nghệ thuật dân tộc như chèo, tuồng, cải lương… ngày càng thưa vắng người xem. Lớp trẻ lớn lên không còn biết hát dân ca, các bà mẹ không còn biết hát ru… Thói đua đòi ăn chơi theo kiểu sống gấp “sống hôm nay không biết có ngày mai”, sống xa hoa vô lối bằng đồng tiền phi lao động đã không còn là hiện tượng hiếm hoi (báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 20 – 1 – 2000 có bài phóng sự về “Những cuộc chơi mút mùa…địa ngục” ở Sài Gòn với lời bộc bạch của những kẻ “một đêm xài không hết 10 cây vàng là không ngủ được!”).
Điều đáng nói trước tiên không phải là những hiện tượng tha hóa về nhân cách trong xã hội ta hôm nay. Điều đáng lo lắng hơn là xã hội chúng ta đã chưa tạo ra được một dư luận  phê phán  đủ mạnh để ngăn chặn những hiện tượng xuống cấp đạo đức như vậy và hậu quả là những  hiện tượng “đồi phong bại tục” như vậy cứ ngang nhiên tồn tại, như “chọc tức”, như “trêu ngươi” mọi người! Sự bàng quan, thờ ơ theo kiểu “mũ ni che tai” này dù muốn hay không cũng là sự đồng lõa với cái ác.
Bao trùm lên các hiện tượng tiêu cực ấy có thể nói là sự khủng hoảng lòng tin – con người không còn có lý tưởng sống đúng đắn, mất định hướng giá trị. Không ít người trở thành tín đồ mù quáng của các dị giáo, của các thứ mê tín dị đoan đang có chiều hướng sinh sôi như nấm sau mưa. (Những dãy xe máy, xe con biển trắng và cả biển xanh nối đuôi nhau hàng cây số trên đường vào xin lễ đền Bà chúa Kho ở Bắc Ninh là một minh chứng đáng buồn).
Cùng với sự vận hành của cơ chế thị trường, của quá trình mở cửa, rõ ràng là toàn cầu hóa đang đem lại những thách thức cam go cho văn hóa dân tộc.
Một số khuyến nghị hướng về xử lý thực tiễn. Toàn cầu hóa, như đã nói, là một quá trình tất yếu, khách quan. Nó diễn ra ở mọi nước trên trái đất này, không một dân tộc nào có thể bị cám dỗ bởi một thứ “chủ nghĩa biệt lập” nào đó mà đứng ra một bên, tránh được quá trình này động chạm tới mình.
Điều quan trọng là chủ động đón nhận nó, có những đối sách thích hợp nhất để phát huy mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực mà nó có thể mang lại.
Như một cơ thể cường tráng có thể chống được mọi bệnh tật, dân tộc ta cần tự tìm trong chính mình những sức mạnh nội sinh để đứng vững trước các thử thách của toàn cầu hóa.
Ở đây, những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là một nguồn lực sâu xa cần được bảo tồn và phát huy bằng những việc làm cụ thể – từ việc tăng cường giáo dục văn hóa truyền thống trong nhà trường cho các em nhỏ đến các chính sách bảo tồn, khuyến khích, phát huy các giá trị văn hóa đó. Bảo tồn văn hóa dân tộc (bao gồm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể) cần được nâng lên thành một Chương trình quốc gia có tính chiến lược lâu dài.
Những việc cụ thể, thiết thực và đồng bộ mà chúng ta tiến hành để đổi mới hệ thống chính trị, hiện thực hóa các thiết chế dân  chủ, đẩy mạnh cải cách kinh tế, cởi bỏ những ràng buộc ngăn cản đồng vốn được đưa vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm và sản phẩm cho xã hội, hình thành một cơ chế sở hữu hợp lý, xóa bỏ tình trạng “công hữu vô chủ” nhằm triệt bỏ tận gốc quốc nạn tham nhũng… những việc tưởng như xa xôi với văn hóa nhưng thực ra lại có tác động hết sức trực tiếp đến sự phát triển văn hóa. Chừng nào người dân còn bị các thủ tục hành chính hành… là chính, đến “cửa quan” còn phải canh cánh tâm lý nhờ vả, xin xỏ, lót tay, chừng nào tiền đóng góp của dân còn rơi vào túi tham của những kẻ lợi dụng chức quyền đục khoét của công… thì chừng ấy các thang bậc giá trị xã hội còn bị đảo lộn: thay vì cần được sống sung túc bằng lao động lương thiện của chính mình, không ít người sẽ bon chen vào con đường “công danh”, mong sống hơn người nhờ có chức có quyền; thay vì học hành chuyên cần để có kiến thức, người ta sẽ bỏ tiền ra mua bằng cấp, chạy đua theo hư danh… Nền tảng của văn hóa bị xói mòn ghê gớm nhất chính là từ những khuyết tật mang tính hệ thống chưa được loại bỏ nằm ngay trong cơ chế.
Để giành lấy khán giả, thính giả về phía mình, văn hóa dân tộc cũng cần có những sản phẩm mang tính tư tưởng, nghệ thuật cao, kỹ thuật hiện đại. Muốn vậy cần có sự chăm lo đồng bộ từ khâu đào tạo nghệ sĩ, các chính sách khuyến khích tự do sáng tạo nghệ thuật trên tinh thần công dân đến các đầu tư mới trang thiết bị kỹ thuật cho các ngành công nghiệp văn hóa… Cần có chính sách khuyến khích sự xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, có sách lược tuyên truyền đối ngoại hiệu quả hơn nữa, xây dựng một cơ chế nhằm hướng tới hoạt động hữu hiệu của hệ thống tùy viên văn hóa ở các sứ quán…
Chúng ta cũng cần có những biện pháp hành chính nghiêm khắc, những hàng rào hữu hiệu ngăn chặn những sản phẩm phi văn hóa du nhập vào nước ta từ những băng đĩa ,  phim ảnh, đến qua mạng Internet. Các phương tiện thông tin đại chúng của chúng ta cũng rất cần tránh vô tình hay hữu ý tuyên truyền, quảng cáo không công cho những sản phẩm văn hóa nước ngoài mà giá trị của nó còn chưa được khẳng định, còn đang ở giai đoạn thể nghiệm hoặc còn rất đáng ngờ về chất lượng nghệ thuật.
Toàn cầu hóa chứa đựng thời cơ và những thách thức to lớn. Trong tiến trình lịch sử của mình dân tộc ta cần tỏ rõ khả năng đón nhận những thời cơ thuận lợi và vượt lên trên các thách thức để đi tới.
Thế kỷ XXI đang tới. Thế giới sẽ chuyển động mạnh hơn bao giờ hết trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập. Tự nhận ra và loại bỏ những khiếm khuyết, chúng ta nuôi hy vọng rằng dân tộc Việt Nam sẽ tìm được chỗ đứng của mình trong trào lưu đó với bản lĩnh của một nền văn hóa lâu đời, được tiếp thêm sức mạnh của thời đại, sức mạnh của lý tưởng độc lập dân tộc, dân chủ, nhân văn và công bằng xã hội./.
                                                _____________________
            P.S. Bài này đã đăng báo Văn nghệ (không nhiều người đọc) từ hơn 11 năm trước (ngày 19/2/2000). Nay người viết vẫn muốn đăng lại dù cụm từ “toàn cầu hóa” không còn quá “hot” như dạo ấy. Dù sao thì người viêt vẫn phần nào cảm thấy bằng lòng khi trong bài đã sử dụng cụm từ  “khuyết tật mang tính hệ thống… trong cơ chế” (mà bây giờ quen gọi là “lỗi hệ thống“). – P.H.G. ,13/5/11.
          Lên trang Viet-studies ngày 14-5-11

Nguồn: Viet-studies và Phan Hồng Giang.

Múa trong ngày lễ Phật Đản, Phật lịch 2536. Ảnh: Nguyễn Văn Kự

Filed under: Du Lịch-Văn Hóa,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Twitter

Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát

[a film by André Menras Hồ Cương Quyết] Đây là một phim tài liệu về cuộc đời hàng ngày của anh chị em ngư dân miền Trung (Bình Châu và Lý Sơn).

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 640 other followers

%d bloggers like this: